Sáng ngày 18/6, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (BR - VT) đã diễn ra hội thảo Tiếp tục thực hiện các giải pháp phát triển cảng biển và dịch vụ hậu cần cảng tỉnh BR - VT. Với những tiềm năng và lợi thế sẵn có, nếu được khai thác tốt, cụm cảng Cái Mép - Thị Vải sẽ tạo ra sự phát triển đột phá cho ngành cảng biển Việt Nam. Tham dự Hội thảo có ông Nguyễn Hồng Lĩnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh BR -VT; ông Nguyễn Văn Thọ, Chủ tịch UBND tỉnh BR - VT; ông Nguyễn Văn Công, Thứ trưởng Bộ GTVT, cùng đại diện các Bộ, Ngành và các chuyên gia, doanh nghiệp cảng biển.

Quang cảnh Hội nghị sáng ngày 18/6 tại tỉnh BR - VT

Phát biểu khai mạc tại Hội thảo, ông Nguyễn Văn Thọ - Chủ tịch UBND tỉnh cho biết, dịch vụ cảng biển và logistics được xác định là lĩnh vực kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của BR-VT. Dự kiến giai đoạn 2016 - 2020, tổng sản lượng hàng hóa bằng tàu biển tăng 10%. Cụ thể, hàng container bằng tàu biển tăng trưởng bình quân trên 20%/năm. Nếu chỉ tính lượng hàng bằng tàu biển, hiệu suất khai thác cảng trên địa bàn tỉnh đến năm 2019 đạt 53%. Công suất khai thác hàng container tăng từ 20% năm 2015 lên 53% năm 2019.

Hiện nay, rào cản lớn nhất hạn chế sự phát triển của cụm cảng CM-TV vẫn là thiếu sự đồng bộ trong hạ tầng giao thông kết nối cảng; thiếu cở hạ tầng dịch vụ sau cảng; các thủ tục thông quan hàng hóa vẫn còn nhiều hạn chế… Những điều này làm tăng chi phí, chưa thật sự thu hút doanh nghiệp đưa hàng về cảng. Nhiều ý kiến đóng góp đã được đưa ra tại Hội thảo.

Ông Nguyễn Năng Toàn, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn kiến nghị, Bộ GTVT, các Bộ, ngành liên quan cần tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dự án cầu Phước An kết nối đường liên cảng tỉnh BRVT với khu vực Nhơn Trạch (tỉnh Đồng Nai) và cao tốc Bến Lức – Long Thành. Tuyến này được đưa vào hoạt động, cùng với cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu đang triển khai đầu tư sẽ giúp cho giao thông kết nối các tỉnh miền Tây Nam Bộ qua TP. HCM, Đồng Nai đến BR-VTđược nhanh chóng, thuận tiện, giảm áp lực giao thông cho Quốc lộ 51 hiện đang ngày càng quá tải. Khi triển khai xây dựng tuyến cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, cần có phương án quỹ đất cho tuyến đường sắt chạy song song và các trạm/ga dừng tại các khu tập trung nhiều hàng hóa để có thể phát triển phương án kết nối đường sắt cho cả hàng hóa và vận chuyển hành khách trong tương.

Bà Đặng Thị Minh Phương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics cho rằng, cần xác định cụm cảnng CM-TV, bao gồm Cảng Cái Mép Hạ là một lợi thế cạnh tranh không chỉ của địa phương mà là của cả quốc gia trong chiến lược phát triển trở thành cảng trung chuyển của khu vực. Bà Phương nhấn mạnh, cơ sở hạ tầng của hệ thống CM-TV là lợi thế cạnh tranh phần cứng là điều kiện cần, tuy nhiên, tỉnh BR-VT phải tiếp tục cùng các nhà khai thác cảng có chiến lược thu hút các hãng tàu chọn CM-TV là cảng nằm trong hệ thống hải hành quốc tế của các Hãng tàu lớn thì mới có thêm điều kiện đủ.

Ông Trần Hoàng Vũ, Giám đốc khai thác Hãng tàu Maersk kiến nghị, luồng hành hải CM-TV cần được tiếp tục duy tu, nạo vét và mở rộng hơn nữa. Ông Vũ cho biết, mặc dù nhận được sự quan tâm và tạo điều kiện từ Cảng vụ hàng hải Vũng Tàu, Cục Hàng hải Việt Nam trong việc thí điểm đưa các tàu lớn đặc biệt là các tàu mẹ tuyến châu Âu, tuy nhiên độ sâu luồng và chiều rộng luồng hành hải hiện nay thực chất vẫn chưa đáp ứng được hoàn toàn xu thế gia tăng cỡ tàu mẹ trên thế giới. Các tàu hiện nay vẫn phải chờ con nước phù hợp để đủ điều kiện hành hải an toàn dẫn tới lãng phí chiếm dụng cầu bến, chi phí nhiên liệu để bắt kịp cảng kế tiếp.

Ông Nguyễn Văn Công, Thứ trưởng bộ GTVT cho biết, Bộ và các ban ngành liên quan đang tiến hành các giải pháp nạo vét duy tu luồng hành hải CM-TV đưa luồng tàu xuống còn 15,5m để đón được những tàu 20.000 – 24.000 TEUs bất cứ lúc nào mà không phải phụ thuộc vào thủy triều như hiện nay, theo kế hoạch trung hạn đến năm 2025 sẽ hoàn thành. Còn dự án cao tốc Vũng Tàu - Biên Hòa hiện đã được giao về cho tỉnh thực hiện, tuyến Bến Lức - Long Thành hiện đang báo cáo Chính phủ xin ý kiến thực hiện.

Kết thúc Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy BR-VT Nguyễn Hồng Lĩnh khẳng định, để phát huy tối đa lợi thế của cụm cảng CM-TV, tỉnh sẽ tập trung các giải pháp kết nối giao thông đường bộ, đường sắt liên cảng, thực hiện bằng được các tuyến cao tốc theo kế hoạch. Hiện tỉnh đã chuẩn bị quỹ đất hơn 2.000 ha để phát triển trung tâm logistics và các dịch vụ sau cảng; đồng thời phải hình thành được trung tâm kiểm tra hàng hóa hiện đại nhằm tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong việc thông quan hàng hóa. Tỉnh sẽ tập trung chọn lựa các nhà đầu tư đủ năng lực để thực hiện các dự án quan trọng như: trung tâm logistics Cái Mép Hạ, trung tâm logistics Lam Sơn, các đường giao thông kết nối… nhằm tạo sức bật mới cho BR-VT.
 
Box thông tin: Dài hơn 20 km, cảng Cái Mép - Thị Vải có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới năm 2017 và là một trong 21 cảng trên thế giới có thể đón tàu đến 200.000 tấn. Cảng này năm 2012 chỉ vài chục nghìn container hàng xuất nhập khẩu thì cuối năm ngoái tăng gấp 10 lần. Hàng hóa các tỉnh kinh tế trọng điểm phía Nam có sự dịch chuyển lớn từ cảng ở TP HCM về Cái Mép - Thị Vải. Chiếm 30% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu bằng container cả nước, cảng Cái Mép - Thị Vải được kỳ vọng sẽ trở thành cửa ngõ giao thương phía Nam.
 
Nguồn: VLR

Covid-19 xảy ra và tác động đến mọi mặt của xã hội từ đời sống đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, tại Việt Nam, ban đầu các doanh nghiệp bị đứt gẫy nguồn cung nguyên liệu, chủ yếu từ Trung Quốc, đặc biệt đối với những ngành sản xuất có tính gia công cao, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài như dệt may, da giầy. Giai đoạn tiếp theo vào tháng 3, khi nguồn cung đó được hồi phục một phần thì thị trường đầu ra, đặc biệt là ở Châu Âu và Hoa Kỳ bị ảnh hưởng làm cho các doanh nghiệp vô cùng khó khăn. 

Tình trạng đóng cửa biên giới phía Bắc, tiếp đến là phía Tây, Tây Nam. Các phương tiện vận chuyển cũng bị cắt giảm, bao gồm cả hàng không. Lượng hàng giao dịch cũng giảm xuống do nhu cầu giảm. Đến nay ở biên giới phía Bắc đã khôi phục được tương đối, còn phía Tây và Tây Nam thì vẫn đang còn đóng cửa. 

Trong bối cảnh này, với ngành được coi là xương sống của nền kinh tế, đồng hành với tất cả các lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, phân phối, lưu thông cho đến tiêu thụ là logistics, cũng đứng trước tình trạng "sập nguồn" đột ngột. Đứt cung, gãy cầu, các doanh nghiệp trong ngành logistics buộc phải nghĩ đến và tìm kiếm những cơ hội trong nền tảng kinh tế số.

COVID-19 ĐÃ RÈN LUYỆN CHÚNG TA KHẢ NĂNG CHỊU ĐƯỢC THỬ THÁCH

Đại dịch Covid 19 là thử thách lớn cho chúng ta trước những biến động khủng hoảng đặt ra. Vấn đề đến với các doanh nghiệp không chỉ lo chạy theo những yếu tố cạnh tranh trước mắt như nâng cao doanh thu đơn thuần hoặc tìm kiếm thêm được 1 hợp đồng mới mà đằng sau đó là việc xây dựng một cơ sở để phát triển lâu dài, có thể lợi nhuận trước mắt chưa tăng ngay nhưng sẽ tạo ra được những thay đổi tốt về quản trị nguồn nhân lực công nghệ cao, ứng dụng nền tảng công nghệ số để có tác phong làm việc hiệu quả cao. 

Covid-19 đã rèn luyện cho chúng ta khả năng chịu được thử thách và cách ứng phó với những khó khăn.

Chuyển đổi số đã đề cập đến trong vài năm gần đây. Nhưng Covid-19 bùng nổ đem chuyển đổi số đến với cuộc sống 1 cách tự nhiên, xuất hiện trong mỗi gia đình từ bà nội trợ đến các em bé mầm non. Tuy nhiên, nếu để quá trình đó diễn tiến tự nhiên thì nó sẽ diễn ra rất chậm, cần phải có cú hích từ Chính phủ, các Hiệp hội đến bản thân doanh nghiệp mới có hiệu quả. 

CÁC DOANH NGHIỆP CHUYỂN ĐỔI TỪ SỐ 0 LẠI LÀ MỘT LỢI THẾ

Khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn thời gian vừa qua, các hoạt động của doanh nghiệp logistics bị ảnh hưởng nhiều. Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) mới thực hiện khảo sát vào giữa tháng 3 vừa qua, 50% doanh nghiệp bị giảm doanh thu từ 10 đến 30%, các doanh nghiệp bị giảm từ 30 đến 50% doanh thu là trên  10%. Covid-19 là sự kiện xảy ra bất ngờ với cả toàn cầu. Những khó khăn do Covid-19 đem lại quả thật rất khó để giải quyết ngay.

Đây chính là thời điểm để nhìn lại nền tảng dịch vụ của các doanh nghiệp logistics và xem xét các cơ hội để cải thiện. Xem trong quá trình vận hành của doanh nghiệp có thể đáp ứng được những tình huống bất ngờ như thế nào, có dịch vụ nào có cơ hội nổi như logistics cho thương mại điện tử, đây không chỉ là giải pháp tình thế mà còn là xu hướng phát triển của logisctic. 

Chuyển đổi số giúp các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng lớn hơn, nhưng để thành công phải có sự cam kết, quyết tâm từ lãnh đạo để gây dựng được văn hóa doanh nghiệp tạo nên nhận thức việc chuyển đổi số là tất yếu. Doanh nghiệp logisitcs thì có rất nhiều mảng dịch vụ khác nhau nên có cách tiếp cận khác nhau, hiện nay nhiều doanh nghiệp đang áp dụng những ứng dụng độc lập, cho từng mảng dịch vụ riêng lẻ. 

Nên có lộ trình ngay từ đầu và phải thực hiện dài hơi, tầm nhìn dài hạn, lựa chọn quy trình phù hợp, lựa chọn nhà cung cấp phù hợp, tài chính phù hợp để tạo nên 1 hệ thống liên hoàn với nhau chứ để tích hợp các hệ thống rời rạc lại thì cũng là vấn đề khó khăn. 

Có 1 điều là đối với các doanh nghiệp chuyển đổi số từ số 0 thì lại là 1 lợi thế so với các doanh nghiệp già cỗi. Ví dụ như Nhật bản đã đi trước chúng ta rất nhiều về công nghệ nhưng trong logistics, tại các bến bãi họ vẫn đang dùng những màn hình đời rất cũ ngày xưa. 

CHUYỂN ĐỔI SỐ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CUỘC THI VỀ CÔNG NGHỆ MÀ LÀ SỰ THAY ĐỔI NHẬN THỨC

 

Ông Phí Anh Tuấn, CEO PAT Consulting, Phó Chủ tịch Hội tin học TP.HCM

Với các doanh nghiệp logistics, chúng ta nên đề cập đến các quy trình liên thông, quy trình kết nối giữa các doanh nghiệp trong chuỗi hệ sinh thái với nhau, ứng dụng công nghệ mới để tạo ra sự khác biệt, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Nói đến mô hình kinh doanh số (digital business), nếu doanh nghiệp chú trọng hướng ra bên ngoài thì tập trung ứng dụng các kết nối đối tác, kết nối khách hàng. Còn mô hình số hướng nội là chú trọng vào các ứng dụng cải tiến quy trình sản xuất, quản lý hoạt động nội tại của doanh nghiệp. Hoặc kết hợp cả hai.

Tôi không cho rằng chuyển đổi số là 1 cuộc thi về công nghệ mà là sự thay đổi nhận thức, từ chủ doanh nghiệp, các thành viên, nhân viên trong tổ chức để thực hiện quy trình, nó dành cho tất cả các đối tượng doanh nghiệp chứ không chỉ với doanh nghiệp lớn.

Thực tế chúng ta đã dùng chuyển đổi số từ lâu bằng việc ứng dụng các phần mềm trong một số các nghiệp vụ trong tổ chức, doanh nghiệp như phần mềm kế toán, phần mềm văn phòng, ERP... Bây giờ chúng ta hướng đến quá trình chuyển đổi số cao hơn, hệ thống hơn và quan trọng là phải có lộ trình phù hợp với từng doanh nghiệp.

Sự xuất hiện của Covid-19 có thể coi là 1 phương tiện truyền thông miễn phí đối với tất cả mọi người để thay đổi nhận thức về số hóa, về những ứng dụng các giải pháp công nghệ trong đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh, điều này thúc đẩy quá trình chuyển đổi số diễn ra nhanh hơn.

Chẳng hạn như những khó khăn doanh nghiệp logistics gặp phải sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp phải nghĩ đến việc kết nối lại với nhau để chia sẻ thông tin, liên thông quy trình nghiệp vụ, làm giảm thiểu chi phí vận hành logistics, trong khi trước đây điều này có thể rất khó.

Không có 1 mô hình cứng nào áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp. Các chủ doanh nghiệp phải lựa chọn mô hình kinh doanh nào, ưu tiên mô hình tái cấu trúc, cải thiện quy trình điều hành nội tại doanh nghiệp hay ưu tiên mô hình tìm kiếm doanh thu bên ngoài hơn. Càng lượng hóa chi tiết dữ liệu càng nhiều thì hiệu quả của quá trình chuyển đổi của chúng ta sẽ tốt hơn.

CẠNH TRANH TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ GIỜ ĐÃ KHỐC LIỆT HƠN THƯƠNG MẠI TRUYỀN THỐNG

 Ông Trần Đình Toản, Phó Giám đốc Công ty CP Đầu tư Công nghệ OSB

OSB là đối tác của tập đoàn Alibaba ở Việt Nam từ năm 2009. Trong hơn 10 hợp tác với Alibaba để hỗ trợ về xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam, sử dụng platform của Alibaba để các doanh nghiệp xuất khẩu trực tuyến ra thị trường nước ngoài, chúng tôi thấy chưa bao giờ doanh nghiệp xuất nhập khẩu khó khăn như hiện nay. 

Tuy nhiên tôi cũng thấy đây là giai đoạn vàng cho Việt Nam. Trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020  qua platform của Alibaba, việc tìm hiểu, hỏi hàng của những doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam ở các thị trường nước ngoài tăng đột biến vì  người mua không hỏi được ở thị trường Trung Quốc.  

Chúng ta đều biết các doanh nghiệp Việt Nam bị cạnh tranh rất khốc liệt với các bạn hàng Trung Quốc. Như vậy thì câu hỏi thường xuyên được đặt ra là làm sao chúng ta cạnh tranh được với các nhà xuất khẩu của Trung Quốc?. Thì chính giai đoạn này, các nhà xuất khẩu của Việt Nam tận dụng được cơ hội để tìm kiếm được khách hàng mới.

Chiến tranh thương mại Mỹ Trung vừa qua một phần cũng chuyển dịch xu hướng thương mại, các nhà nhập khẩu cũng đã chuyển sang thị trường Việt Nam, nhưng Covid là 1 chất xúc tác, tạo 1 cú hích mạnh mẽ hơn thúc đẩy quá trình này. 

Tôi tâm đắc câu nói “Có những điều bạn học được tốt nhất trong lúc giông bão”, qua cơn bão Covid này tôi đúc kết 3 bài học mà doanh nghiệp cần thay đổi: Thứ nhất là quy trình hoạt động, quản lý của doanh nghiệp nên đơn giản, được quy chuẩn, lượng hóa tối đa (simple is the best) để trong tình huống khó khăn ta có thể thay đổi, vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình điều hành. Thứ 2 là ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác điều hành, quản lý  cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh 1 cách hiệu quả. Thứ 3 là chúng ta phải có dự phòng về tài chính để ứng phó với những khó khăn bất ngờ.

Chúng ta phải coi chuyển đổi số là vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển doanh nghiệp, xuất phát từ ý thức, tầm nhìn của chủ doanh nghiệp và lan tỏa tới tất cả thành phần, xây dựng văn hóa định hướng sự đổi mới, nhân viên có tư duy về số hóa thì việc ứng dụng chuyển đổi số mới hiệu quả. 

Các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận với các kênh trực tuyến. Điều này đem lại cả khó khăn và cơ hội cho doanh nghiệp, vì cạnh tranh trong thương mại điện tử ngày càng khốc liệt, khốc liệt hơn so với thương mại truyền thống.  

Ngoài ra việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của doanh nghiệp cũng rất quan trọng. Đa dạng hóa người mua và người bán, điều này tưởng là lý thuyết nhưng lại là bài học lớn sau những khủng hoảng vừa qua. 

Một xu hướng nữa cũng cần quan tâm là sự chia nhỏ đơn hàng, xu hướng về giao thương, các giao dịch qua mạng ngày càng nhỏ để phòng ngừa rủi ro tốt hơn. 

Việc khách hàng là thượng đế nhưng thượng đế hiện giờ nhiều khi không biết mình muốn gì nên là người bán hàng phải khơi gợi tư duy mua hàng của khách, để khách hàng trải nghiệm, dẫn dắt và tạo nhu cầu cho khách hàng. Đây cũng là yếu tố mà môi trường trực tuyến đem lại cho doanh nghiệp. 

Sáng 10/06, tại Văn phòng Hiệp Hội Doanh Nghiệp Dịch Vụ Logistics Việt Nam (VLA) buổi hòa giải (trực tuyến) về việc tranh chấp thu phí đối với container SOC giữa 01 Công ty chủ hàng (là hội viên VLA) và 01 Đại lý của hãng tàu đã được thực hiện thành công.

Luật sư Ngô Khắc Lễ  - Tiểu ban tư vấn Pháp luật VLA với vai trò là Hòa giải viên (HGV) chủ trì buổi hòa giải. HGV đã đưa ra các ý kiến về cont chủ hàng (SOC) và các quy định về luật hàng hải & thương mại quốc tế sau khi nghe 2 bên trình bày sự việc, nêu quan điểm của mình. Chỉ sau 2 giờ đối thoại và được hòa giải, hai bên đã hiểu rõ mọi vấn đề có liên quan đến trách nhiệm pháp lý của chủ tàu (người vận chuyển). Đại lý của chủ tàu sẽ báo cáo nội dung buổi hòa giải để chủ tàu giải quyết đồng thời lưu ý chủ tàu về trách nhiệm pháp lý, khắc phục sai sót của cả chủ tàu lẫn đại lý trong vụ việc này.  Hai bên thống nhất cùng nhau trao đổi thông tin qua thư điện tử để các bên cùng biết nhằm giải quyêt nhanh chóng vụ việc. 

Luật sư Ngô Khắc Lễ chia sẻ: Buổi hòa giải là cách tối ưu để tìm biện pháp tốt nhất cho cả hai tránh phải tiếp tục kiện tụng vừa tốn thời gian & chi phí. Đồng thời khẳng định, tiểu ban pháp luật của VLA luôn sẵn sàng hỗ trợ tư vấn, giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp lý trong việc kinh doanh của các doanh nghiệp Hội viên.

Từ đầu năm 2020 đến nay, tiểu ban pháp luật của VLA đã thực hiện tư vấn pháp lý cho gần 20 trường hợp, đóng vai trò quan trọng trong công tác hỗ trợ hội viên VLA.

Nguồn: VLA

 

(TBKTSG) - TPHCM đang đề xuất hình thành thành phố sáng tạo phía Đông, với kỳ vọng sẽ nâng tầm không chỉ khu vực mới này, hay cả TPHCM và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, mà còn thúc đẩy sự phát triển ở tầm quốc gia. Trên những diễn đàn khác nhau, đã có nhiều chuyên gia bình luận về các chức năng quan trọng cần phát triển, nhưng một nội dung chưa nhận được nhiều sự quan tâm tại thời điểm này đó là xây dựng thành phố phía Đông như là hạt nhân để đưa TPHCM trở thành một trung tâm logistics toàn cầu.

Trong một báo cáo được công bố vào năm 2015 , CBRE định nghĩa trung tâm logistics là những khu vực thúc đẩy, tạo điều kiện tối đa cho hoạt động sản xuất và phân phối hàng hóa. Những trung tâm có vị trí chiến lược và có quy mô lớn thì có thể đạt đến tầm trung tâm logistics toàn cầu, luân chuyển hàng hóa bằng cách kết nối luồng vận chuyển giữa các phương thức khác nhau, bao gồm hàng hải, hàng không, đường sắt, đường bộ và đường thủy nội địa, tối ưu hóa quá trình phân phối hàng hóa và giảm thiểu chi phí giao dịch giữa các nhà cung ứng với người tiêu dùng cuối cùng. Trong báo cáo, CBRE chọn ra 30 thành phố đóng vai trò là trung tâm logistics toàn cầu và 20 thành phố là trung tâm logistics khu vực, và mặc dù ghi nhận cảng TPHCM nằm trong danh sách 25 cảng biển hàng đầu thế giới, CBRE không đưa một cái tên nào từ Việt Nam vào hai danh sách này.

Nhưng đến phần cuối báo cáo, khi nhận định về những thành phố có khả năng phát triển thành trung tâm logistics toàn cầu trong tương lai thì TPHCM là cái tên duy nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà báo cáo tin rằng có thể đạt được vị trí này vào năm 2050.

Năm năm sau khi báo cáo của CBRE được công bố, TPHCM đang đi đúng trên con đường mà các tác giả báo cáo đã dự đoán. Việt Nam đã có thêm nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) trong những năm qua, nổi bật là với Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Liên minh kinh tế Á - Âu. Hoạt động sản xuất và logistics đã liên tục phát triển ở TPHCM và các tỉnh lân cận trong nửa thập kỷ qua, thêm vào đó, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch Covid-19 càng khiến cho xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc diễn ra nhanh hơn. Nhiều chuyên gia đã nhận định, Việt Nam nói chung và khu vực vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (bao gồm TPHCM) nói riêng sẽ có nhiều thuận lợi để là điểm đến tiếp nhận dòng đầu tư này.

Xét về thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng logistics tại TPHCM, thì khu vực dự định hình thành thành phố phía Đông đang quy tụ cả cụm cảng biển lớn nhất và cụm cảng cạn lớn nhất (khu vực ICD Trường Thọ) Việt Nam. Về cảng biển, cụm cảng Cát Lái và cảng container quốc tế SP-ITC còn là cụm cảng feeder lớn nhất thế giới, với gần 90 tuyến dịch vụ hàng tuần. Dù khu vực ICD Trường Thọ dự kiến sẽ được di dời trong những năm tới để dành chỗ cho khu đô thị tương lai, thì hai trong số các khu vực hình thành các ICD mới tại TPHCM cũng đều nằm tại thành phố phía Đông là Cát Lái và Long Bình (thuộc quận 9).

Cũng trong khu vực thành phố phía Đông, hiện có trung tâm logistics tại khu công nghệ cao của Transimex với tổng diện tích 30.000 mét vuông cùng hệ thống kho gần 60.000 mét vuông của Sotrans, cung cấp các dịch vụ logistics đa dạng cho các khách hàng. Theo Đề án Phát triển ngành logistics trên địa bàn TPHCM, đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 thì tại khu vực thành phố phía Đông cũng có ba trong tám vị trí hình thành thêm các trung tâm logistics của TPHCM bao gồm khu công nghiệp Cát Lái, khu ICD Long Bình và khu công nghiệp Linh Trung.

Thành phố phía Đông cũng sẽ là điểm nằm giữa vị trí của hai sân bay quốc tế hàng đầu cả nước là sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay Long Thành, khu vực này thích hợp để thành lập một trung tâm logistics chuyên dụng hàng không theo nội dung Quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định 1012/QĐ-TTg ngày 3-7-2015. Như vậy, thành phố phía Đông đang là hạt nhân phát triển logistics của TPHCM, cả về nguồn lực cảng biển, tiềm năng thu hút đầu tư và phát triển trung tâm logistics cũng như khả năng kết nối cao đến các tỉnh thành trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Tuy nhiên, phát triển thành phố phía Đông trở thành hạt nhân để đưa TPHCM trở thành một trung tâm logistics toàn cầu là một mục tiêu còn nhiều thách thức.

Điều đầu tiên, là ở việc lựa chọn ưu tiên. Hiện chưa có nhiều thảo luận liên quan đến việc định vị thành phố phía Đông như một trung tâm logistics tầm cỡ toàn cầu, dù gần đây lãnh đạo thành phố đã nhắc đến mục tiêu đưa TPHCM trở thành trung tâm logistics của khu vực.

Dường như những mục tiêu như trung tâm về tài chính, công nghệ cao hay giáo dục đang được chú trọng nhiều hơn trên các diễn đàn, và đó là những mục tiêu nghe có vẻ “sang” hơn so với một trung tâm logistics. Tuy nhiên, một trung tâm sáng tạo, khu công nghệ cao và khu chế xuất sẽ cần đầu vào và có đầu ra. Vai trò trung tâm logistics là rất cần thiết để tối ưu hóa quá trình luân chuyển những nguyên liệu/sản phẩm đầu vào - đầu ra đó. Và xét về mặt giải pháp logistics cho doanh nghiệp, thì trung tâm logistics cũng chính là một trung tâm sáng tạo.

Ngoài ra, trao đổi với người viết, Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh cho rằng xét về tầm nhìn cho TPHCM, một trung tâm logistics hoàn toàn không xung đột với một trung tâm tài chính, các thành phố lớn trong khu vực đều có những trung tâm đa chức năng như vậy. Phố Đông của Thượng Hải là một trường hợp đáng xem xét, Phố Đông có trung tâm tài chính, thương mại, khu công nghệ cao, khu chế xuất, khu thương mại tự do, và có khu cảng container nước sâu Waigaoqiao rất tấp nập với các hoạt động logistics, và Thượng Hải chính là một trung tâm logistics toàn cầu.

Ngay cả khi được xác định mục tiêu trở thành một trung tâm logistics tầm cỡ và được cho phép thành lập, thì thành phố phía Đông cũng còn nhiều thách thức ở phía trước.

Hiện nay quỹ đất quy mô lớn ở thành phố phía Đông không còn nhiều, trong khi việc xây dựng các trung tâm logistics cần quỹ đất với diện tích nhất định. Và mặc dù có hệ thống cảng biển lớn, kết nối cảng biển với hậu phương cũng chưa thể được xem là hiệu quả. Thành phố cần sớm hoàn thiện đề án phát triển ngành logistics trên địa bàn thành phố nhằm xác định được vị trí xây dựng các trung tâm logistics để ưu tiên quỹ đất, đồng thời đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng quan trọng như khép kín đường vành đai 2, tiếp tục xây dựng đường vành đai 3, mở rộng đường Nguyễn Duy Trinh, xây dựng cầu Cát Lái và hoàn thiện các nút giao An Phú, Mỹ Thủy để tăng cường hiệu quả hoạt động của các bến cảng và các trung tâm logistics trong khu vực.

Việc định vị thành phố phía Đông là hạt nhân, để đưa TPHCM trở thành một trung tâm logistics toàn cầu, có thể được xem là một mục tiêu cần thiết và quan trọng trong quá trình phát triển thành phố phía Đông không kém các mục tiêu khác. Song song với quá trình hoàn chỉnh về chính sách, thì những chuẩn bị về hạ tầng cần được đẩy nhanh tiến độ, bởi cơ hội để tham gia vào việc dịch chuyển chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn sẽ không kéo dài quá lâu. Liệu chúng ta có lại bỏ qua cơ hội chuyển mình này?

Đặng Dương

Link gốc bài viết: https://www.thesaigontimes.vn/304535/Thanh-pho-phia-Dong-Chua-thay-noi-den-vai-tro-cua-logistics.html/

Ngày 12/6, tại TP. HCM đã diễn ra Hội nghị trực tuyến giới thiệu Cổng dịch vụ công quốc gia và những lợi ích dành cho doanh nghiệp. Hội nghị do Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ cùng với Ngân hàng Thế giới, Chính phủ Australia phối hợp tổ chức.

Theo số liệu của bộ phận vận hành Cổng dịch vụ công quốc gia cho thấy, ngày 18/5, trước khi diễn ra hội nghị trực tuyến lần thứ nhất (ngày 19/5 tại Hà Nội), trên 142.000 tài khoản đăng ký tham gia hội nghị. Trong đó, khoảng 1.100 tài khoản của doanh nghiệp và trên 37 triệu lượt truy cập hệ thống. Bộ phận kỹ thuật tiếp nhận, hỗ trợ trên 11.000 cuộc gọi, 5.600 phản ánh, kiến nghị. Hệ thống tích hợp 405 dịch vụ công trực tuyến lên cổng, với 232 dịch vụ công dành cho doanh nghiệp.


So với thời điểm khai trương cổng vào 9/12/2019, khi chỉ có 8 nhóm dịch vụ công được cung cấp, thì tới nay con số đã được cải thiện đáng kể. Tới ngày 10/6, 164.000 tài khoản đăng ký tham gia, trong đó 1.720 tài khoản thuộc về doanh nghiệp, tăng trên 600 tài khoản; 42,3 triệu lượt truy cập; hỗ trợ trên 13.400 cuộc gọi của người dân, doanh nghiệp. Hệ thống tích hợp, cung cấp 512 dịch vụ công trực tuyến, bao gồm 288 dịch vụ công cho doanh nghiệp.

Dịch vụ công quốc gia góp phần làm giảm gánh nặng về mặt thời gian, cũng như chi phí, thông hành giấy tờ, việc áp dụng số hóa dịch vụ hành chính công dưới một góc độ nào đó cũng đã giúp giảm chi phí logistics. Theo ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội VLA, việc triển khai, áp dụng dịch vụ công quốc gia sẽ góp phần làm giảm chi phí logistics. Theo thống kê gần đây nhất của Ngân hàng thế giới thì chi phí logistics của Việt Nam thuộc top cao trong khu vực, vậy nên để Việt Nam có thể nâng cao năng lực cạnh tranh hơn nữa thì chi phí logistics cũng là một vấn đề lớn cần được giải quyết.

Ngoài ra, nhằm giảm gánh nặng về mặt thủ tục giấy tờ, thời gian giao dịch thì thời gian qua VLA đã đẩy mạnh triển khai số hóa chứng từ vận tải, cụ thể ở đây là lệnh giao hàng điện tử (eDO). Theo tính toán của Hiệp hội VLA, lợi ích khi chuyển sang giao dịch e-D/O là rất lớn. Cụ thể, (1) có thể tiết kiệm rất nhiều thời gian (hàng ngàn ngày công) so với giao nhận D/O giấy (cho mảng LCL và giao nhận hàng không - airfreight) với số lượng hơn 2 triệu giao dịch D/O giấy/năm trên phạm vi cả nước; (2) giải phóng hàng ngàn lao động (khoảng 3 ngàn người) để tham gia các công đoạn giá trị gia tăng khác của ngành logistics; (3) tránh rủi ro từ việc giao nhận và kiểm soát giao dịch một lượng tiền mặt rất lớn cho giao dịch D/O giấy/ năm trên phạm vi cả nước. Rủi ro về giao dịch D/O bản giấy và e-D/O là ngang nhau. Vì thế, nên hướng đến một kế hoạch hành động để bắt kịp xu thế số hóa và công nghiệp 4.0.

Theo VLR

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) được xem là cơ hội đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và các nước ở khu vực này. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thị trường EU của doanh nghiệp logistics trong nước không lớn do thị trường này có các đối thủ mạnh, trong khi khách hàng khu vực này đòi hỏi chất lượng dịch vụ cao.

Cơ hội lớn

Nhận định nhu cầu kho bãi sẽ tăng cao sau “bước ngoặt” EVFTA EVFTA nên nhiều doanh nghiệp phát triển hạ tầng các khu công nghiệp khác ở TPHCM, Bình Dương, Long An, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu hoặc các tỉnh thành khu vực phía Bắc, trong thời gian qua cũng tăng cường phát triển hạ tầng logistics nhằm đón đầu nhu cầu tăng cao khi đầu tư nước ngoài đến Việt Nam sản xuất - kinh doanh, nhất là EVFTA sắp có hiệu lực.

Thật vậy, theo đánh giá của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), EVFTA thực thi có cơ hội gia tăng quy mô thị trường xuất nhập khẩu, kéo theo nhu cầu lớn đối với hoạt động logistics.

Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) Nicolas Audier cũng nhận định thỏa thuận EVFTA sẽ cho phép Việt Nam đặc quyền tiếp cận thị trường tiêu dùng châu Âu với quy mô hàng trăm triệu dân. EVFTA đồng thời mở ra cơ hội cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp châu Âu tiếp cận thị trường đang phát triển nhanh của Việt Nam.

Còn theo ông Tobias Gruemmer, Giám đốc Vận hành khu vực của A.P. Moller-Maersk, so với dân số liên minh châu Âu khoảng 500 triệu người, thì khu vực Đông Nam Á với dân số hơn 600 triệu, trong đó Việt Nam là gần 100 triệu người được đánh giá là thị trường tiêu thụ sản phẩm tiềm năng.

Trước đây, Việt Nam tập trung vào xuất khẩu, song nay đã đẩy mạnh hơn vào nhập khẩu và sản xuất trong nước. Nguyên nhân chính là do sự gia tăng của tầng lớp trung lưu hiện nay, khiến thói quen tiêu dùng dần thay đổi, dẫn đến sự dịch chuyển trong chuỗi cung ứng.

Do đó, theo ông Gruemmer, nhu cầu lưu trữ, vận chuyển hàng hóa tăng mạnh kéo theo các giải pháp về kho bãi, giao hàng được đa dạng hóa và thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia. Thị trường logistics dự báo sẽ trở nên sôi động trong thời gian tới và được đánh giá là “mảnh đất màu mỡ” cho nhà đầu tư.

Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, EVFTA dự kiến sẽ góp phần làm GDP tăng thêm ở mức bình quân từ 2,18 đến 3,25% (cho giai đoạn năm năm đầu thực hiện); 4,57-5,3% (cho giai đoạn năm năm tiếp theo) và 7,07-7,72% (cho giai đoạn năm năm sau đó).

Nhưng nhiều thách thức hơn

Rõ ràng khi EVFTA được thực thi sẽ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai bên càng nhộn nhịp, thị trường đối với dịch vụ logistics càng mở rộng, đặc biệt là dịch vụ logistics quốc tế. Ngoài ra, cơ hội tiếp cận thị trường dịch vụ logistics của khu vực này cũng rộng mở cho doanh nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh các cơ hội và tiềm năng, doanh nghiệp logistics cũng phải đối mặt với nhiều thách thức mới từ EVFTA. Bởi lẽ theo các chuyên gia, doanh nghiệp logistics trong nước chủ yếu là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, sức cạnh tranh yếu trong khi khu vực EU vốn rất mạnh về logictics với các công ty đa quốc gia, các đội tàu lớn hiện đại chiếm thị phần lớn trên thế giới.

Mặt khác lâu nay, ngành này vẫn được “bảo hộ” thông qua các điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Trên thực tế trong bảng xếp hạng Chỉ số năng lực logistics (LPI) năm 2018 của Ngân hàng Thế giới, Đức đứng vị trí đầu tiên, các nước EU chiếm 4 trong top 5 vị trí đầu bảng (Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Bỉ), chiếm 14 trong top 20 vị trí đầu bảng.

Điểm đáng chú ý là hiện nay nhiều doanh nghiệp logistics lớn của khu vực EU cũng đã có hoạt động kinh doanh ở thị trường trong nước, dù mức mở cửa của Việt Nam trong logistics theo cam kết của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) còn rất hạn chế.

Một số ý kiến còn lo ngại lo ngại, các nước châu Âu có trình độ logistics cao hơn Việt Nam. Vì thế, doanh nghiệp Việt Nam khó giành được đơn hàng, nhất là khi nhà sản xuất, đầu tư quốc tế có mối liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ logistics ở EU, còn doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chủ yếu xuất theo phương thức FOB.

Do đó, theo giới phân tích sau EVFTA, các cam kết mở cửa của Việt Nam sẽ mạnh hơn, cạnh tranh từ các doanh nghiệp khu vực này với doanh nghiệp Việt Nam sẽ còn lớn hơn nữa.

Ở chiều ngược lại EU cũng sẽ mở cửa thị trường dịch vụ logistics cho các doanh nghiệp Việt Nam. Mặc dù vậy, trên thực tế, theo giới quan sát khả năng tiếp cận thị trường EU của doanh nghiệp logistics Việt Nam không lớn. Bởi đây là thị trường đã có sẵn các đối thủ mạnh, khách hàng EU đòi hỏi cao về chất lượng dịch vụ và các ràng buộc pháp lý gián tiếp (các điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics).

Với những sức ép trên, giới phân tích cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần điều chỉnh, thay đổi phương thức kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh phù hợp với các quy định và tuân thủ nguyên tắc hợp tác trong khuôn khổ EVFTA đưa ra.

Mặt khác, Nhà nước cần và nên triển khai nhằm thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ logistics phục vụ vận chuyển hàng hóa, tiếp tục rà soát cắt giảm chi phí logistics bất hợp lý. Cùng với đó, các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam cần tăng cường kết nối hợp tác với nhau, chia sẻ các lợi thế nhằm giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh ngành.

Theo Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), Hiệp định EVFTA có thể ảnh hưởng đến triển vọng phát triển ngành logistics ở hai góc độ: (1) cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam và EU trong lĩnh vực vận tải và phục vụ vận tải; (2) cam kết trong các lĩnh vực ảnh hưởng đến dung lượng thị trường dịch vụ logistics trên các góc độ quy mô, chất lượng dịch vụ, nhu cầu mở rộng công suất, thực hiện dịch vụ.

Nguồn: Thời báo kinh tế Sài Gòn

Link bài gốc: https://www.thesaigontimes.vn/td/304773/logistics-noi-chiu-nhieu-suc-ep-khi-vao-evfta-.html

Với hơn 8 triệu tỉ đồng đã “bơm” ra (chiếm khoảng 70% dư nợ toàn nền kinh tế), chỉ cần hệ thống ngân hàng lơ là, chậm trễ có thể sẽ khiến hàng trăm nghìn doanh nghiệp đang hứng chịu “cơn bão” đại dịch Covid-19 phải đóng cửa, rời bỏ thị trường.
 

Đi trước 1 bước...

Một trong những khó khăn lớn nhất đối với doanh nghiệp (DN) kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát là hàng hóa ách tắc, sản xuất kinh doanh đình trệ, hàng xuất đi không bán được hoặc có đầu ra thì lại thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào... Dòng tiền thiếu hụt, không thu hồi được để thanh toán nợ vay ngân hàng (NH).
Nợ không trả được sẽ thành nợ xấu, không tiếp tục được vay vốn, không duy trì được sản xuất, lao động mất việc, DN đóng cửa... “Chúng tôi thống kê, từ khi bắt đầu có dịch Covid-19, TienPhongBank có khoảng 1.000 khách hàng với dư nợ khoảng 10.000 tỉ đồng có khả năng đến hạn không trả được. Tôi nghĩ đây là sự thách thức rất lớn bởi các DN vừa và nhỏ là lực lượng đang giải quyết việc làm cho phần lớn lao động”, ông Đỗ Minh Phú, Chủ tịch HĐQT NH TMCP Tiên Phong (TienPhongBank), chia sẻ.
Trong khó khăn, nguy cấp cần phải có những hành động kịp thời. Sự nhập cuộc nhanh của NH đã giúp các DN dễ thở hơn. Nhìn lại quá trình Covid-19 hoành hành, ngay khi Việt Nam xác nhận những ca đầu tiên, cửa khẩu với phía Trung Quốc tạm đóng cửa... hệ thống NH vào cuộc khá sớm.
 
Cụ thể, ngày 4.2, trong khi chờ thông tư hướng dẫn (theo quy trình của luật), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chỉ đạo toàn hệ thống phải chủ động nắm bắt, rà soát tình hình để cơ cấu lại ngay nợ, giảm lãi vay, miễn lãi cho DN.
Dù khi đó không ít ông chủ NH vẫn còn băn khoăn về việc giãn cho ai, giãn trong thời gian nào, song tất cả đều phải “xắn tay áo” chạy hết tốc độ.
Ông Lê Đức Thọ, Chủ tịch VietinBank, cho biết nếu mang tâm lý chờ đợi hướng dẫn thì các DN sẽ phải đóng cửa, phá sản, NH cũng khó mà sống được. Do đó, VietinBank giảm lãi suất trước, hỗ trợ thanh khoản, tập trung vào các DN chịu tác động trực tiếp của Covid-19 trong lĩnh vực hàng không, du lịch, xuất nhập khẩu. “Nói hỗ trợ thì dễ bị hiểu lầm là cho đi. Bản chất ở đây là chia sẻ, khách hàng là bạn, đối tác của NH. Hai bên cùng nương tựa vào nhau vượt qua khó khăn trong đại dịch”, ông Thọ nói.
Bên cạnh VietinBank, các NH khác cũng liên tiếp đưa ra nhiều giải pháp hỗ trợ DN, cam kết cho vay với lãi suất giảm từ 0,5 - 1%/năm so với mặt bằng lãi suất chung như: Techcombank, VPBank, Vietcombank... Đồng thời, xem xét giảm lãi suất đối với dư nợ hiện hữu, với mức lãi suất giảm từ 1 - 3%/năm; không tính lãi phạt, giảm phí dịch vụ NH.
 

Doanh nghiệp nào được hưởng?

Sau khi chủ động đi trước hỗ trợ DN, ngày 13.3, NHNN đã chính thức ban hành Thông tư 01/2020 để xử lý các bước tiếp theo về mặt quy trình. Theo Phó thống đốc NHNN Đào Minh Tú, thông tư đảm bảo cơ sở pháp lý hướng dẫn các NH thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí; giữ nguyên nhóm nợ cho DN, người dân vay vốn bị thiệt hại do ảnh hưởng của dịch Covid-19.
Tinh thần chung là tạo điều kiện thuận lợi nhất để các NH được chủ động tái cơ cấu những khoản nợ đến hạn đối với DN, nhưng vẫn bảo đảm sự hỗ trợ đến đúng địa chỉ các đối tượng bị thiệt hại do Covid-19.
Một điểm khác biệt rất đáng chú ý, theo Phó thống đốc Đào Minh Tú, khác với thời kỳ khủng hoảng tài chính năm 2009 khi việc hỗ trợ cho DN được thực hiện bằng nguồn ngân sách (cấp bù lãi suất), thì lần này nguồn chính từ lợi nhuận của các NH. “Các NH sẵn sàng, chủ động chia sẻ lợi nhuận của mình với khó khăn của DN do Covid-19”, ông Tú khẳng định.
Vậy những DN nào sẽ được giảm lãi, giãn nợ và trong thời gian bao lâu? Ông Nguyễn Trọng Du, Phó chánh thanh tra Cơ quan Thanh tra giám sát thuộc NHNN, cho biết thêm: Thông tư quy định nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ là số dư nợ gốc và/hoặc lãi đáp ứng đầy đủ các điều kiện: thứ nhất phát sinh từ hoạt động cho vay, cho thuê tài chính.
Thứ hai, phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi trong khoảng thời gian từ ngày 23.1.2020 đến ngày liền sau 3 tháng kể từ ngày Thủ tướng công bố hết dịch Covid-19. Thứ ba, khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid-19.
Đánh giá thêm tác động của thông tư, ông Nghiêm Xuân Thành, Chủ tịch HĐQT NH Vietcombank, nói: “Các DN được giảm, miễn lãi tùy theo năng lực tài chính của các NH. Tại Vietcombank thì mức giảm miễn lãi là 1 - 1,5% đối với khoản vay bằng VND và 0,5% với dư nợ ngoại tệ. Đây là hành lang pháp lý quan trọng để NH cơ cấu lại thời gian trả nợ mà không bị chuyển nhóm nợ. Các NH có thể tiếp tục cho vay mới với DN bị ảnh hưởng bởi dịch”.
TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính, cho rằng chỉ cần chậm trễ ban hành thông tư sẽ có thể gây ra hậu quả rất lớn, vì hiện nay 70% vốn trong nền kinh tế là từ tín dụng của hệ thống NH. Không cơ cấu lại nhanh, không khơi thông vốn được..., nhiều DN sẽ bị khai tử sau đại dịch. “Thông tư đã tạo hành lang pháp lý cho các NH triển khai cơ cấu nợ, miễn, giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ. Nếu không NH sẽ rất sợ nợ xấu mà không dám hành động quyết liệt”, ông Hiếu nói.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, NHNN, với tinh thần trách nhiệm cao vì cộng đồng xã hội, ngành NH hỗ trợ ủng hộ Quỹ phòng, chống dịch Covid-19 với số tiền khoảng 110 tỉ đồng.

Tiếp tục xem xét giảm lãi cho 34.350 khách hàng

Báo cáo bước đầu của NHNN cho thấy, đến nay toàn hệ thống đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng với tổng dư nợ 21.753 tỉ đồng; miễn giảm lãi cho khoảng 8.000 khách hàng với số tiền trên 350 tỉ đồng. Các NH cũng đang xem xét miễn giảm lãi cho vay cho 34.350 khách hàng với dư nợ 185.000 tỉ đồng; tiếp tục hoàn thiện hồ sơ mới, cho vay mới cho khoảng 5.493 khách hàng với doanh số cho vay dự kiến khoảng 24.000 tỉ đồng. Ngoài ra, tạm thời chưa chuyển nhóm nợ, xem xét giảm lãi suất, cho vay mới.
 
Link gốc bài viết: https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/ngan-hang-chia-se-loi-nhuan-voi-doanh-nghiep-kho-khan-vi-dich-1196426.html

Chiều nay (29/05), Cục Đường thủy nội địa Việt Nam tổ chức Hội nghị đối thoại với các hiệp hội, doanh nghiệp vận tải thủy nội địa năm 2020 dưới sự chủ trì của ông Bùi Thiên Thu – Cục trưởng Cục Đường thủy nội địa Việt Nam.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải (GTVT) về việc hoàn thiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ trong việc thúc đẩy phát triển vận tải thủy nội địa, vận tải ven biển và tổng kết tình hình thực hiện Quyết định số 47/2015/QĐ-TTg ngày 05/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển vận tải thủy nội địa, tiến tới xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thay thế Quyết định số 47/2015/QĐ-TTg.Thời gian qua, Bộ GTVT, Cục Đường thủy nội địa Việt Nam đã có những công tác quản lý, đồng hành cùng các doanh nghiệp, đồng thời tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp như cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia,...

Cục Đường thủy nội địa Việt Nam đã có văn bản đề nghị các hiệp hội, hội chuyên ngành và các doanh nghiệp vận tải thủy nội địa phối hợp đề xuất các giải pháp thúc đẩy vận tải thủy, vận tải ven biển. Cục Đường thủy nội địa Việt Nam đã nhận được 81 kiến nghị, đề xuất. Trong đó, có 7 nhóm giải pháp được đề xuất, kiến nghị bao gồm các giải pháp về (1) thuế, (2) phí, (3) giá và nguồn vốn, (4) cơ sở hạ tầng, (5) quy hoạch, (6) cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính, (7) các kiến nghị khác.

Phát biểu tại Hội nghị, ông Nguyễn Duy Minh – Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), cho biết: “Ngoài các kiến nghị gửi đến Cục Đường thủy nội địa bằng văn bản, chúng tôi có thêm một số kiến nghị nhằm gỡ khó cho các doanh nghiệp, phát triển vận tải thủy nội địa. Đầu tiên, cần thiết lập tĩnh không thông thuyền và phân luồng các tuyến Bắc Ninh - Hải Phòng, Đồng bằng sông Cửu Long lên Hồ Chí Minh. Khu vực chợ Gạo (Cần Thơ) cũng cần tiến hành nạo vét, tĩnh không thông thuyền, tạo thuận lợi cho công tác vận chuyển hàng. Chú trọng công tác đào tạo thuyền viên điều khiển các phương tiện đường thủy nội địa, đảm bảo an toàn. Cuối cùng là kế hoạch di dời sang cảng trung chuyển - ICD Long Bình. Hàng năm, lượng hàng trung chuyển qua khu vực này là rất lớn nhưng ICD Long Bình vẫn chưa sẵn sàng, mong phía Cục Đường thủy nội địa có sự quan tâm đến khu vực này ".

Ông Minh chia sẻ thêm, Hiệp hội VLA rất hoan nghênh và ủng hộ việc phát triển vận tải thủy nội địa, thay đổi cơ cấu các loại hình vận tải như định hướng của Bộ GTVT đề ra là đến năm 2025, vận tải thủy nội địa chiếm khoảng trên 30% trong tổng cơ cấu vận tải của Việt Nam.

Vận tải đường thủy nội địa, vận tải sông pha biển là một trong những thế mạnh của nước ta. Tuy nhiên, Luật Giao thông đường thủy nội địa bổ sung, sửa đổi năm 2014 đã bộc lộ nhiều hạn chế bất cập so với nhu cầu phát triển của giao thông thủy nội địa hiện nay. Hội nghị chính là cơ hội để các hiệp hội, doanh nghiệp phát thảo ra bức tranh tổng quát nhất các vấn đề liên quan đến vận tải thủy nội địa. Để từ đó, cơ quan quản lý Nhà nước, Cục Đường thủy nội địa Việt Nam kịp thời ghi nhận những phản ánh, nghiên cứu, đề xuất ra các giải pháp thúc đẩy phát triển vận tải thủy nội địa Việt Nam tương xứng với tiềm năng hiện có.

Box thông tin: Hiệp hội VLA gửi đến Hội nghị 4 giải pháp bao gồm: Cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật Vận tải đường thủy nội địa; Kịp thời bổ sung khung pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa xuất nhập khẩu; Tập trung đầu tư phát triển các ICD/cảng thủy nội địa; Xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa vận tải thủy nội địa và vận tải biển cả về luật pháp điều chỉnh và phân công vận chuyển, kết hợp với vận tải sông pha biển một cách hiệu quả.

Nguồn: VLR

Đây là kế hoạch thuộc chương trình hợp tác giữa Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) và Thương vụ Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ với Hiệp hội các nhà Phân phối và Bán lẻ Giày dép Hoa Kỳ (FDRA) trong khuôn khổ “Hội nghị giao thương trực tuyến: Xúc tiến thương mại Giày dép Việt Nam - Hoa Kỳ hậu Covid 19”, diễn ra từ ngày 28 – 30/5/2020.

 

Hội nghị là sự kiện giao thương trực tuyến đầu tiên trong lĩnh vực giày dép của Việt Nam với thị trường Hoa Kỳ.

Tại hội nghị giao thương, 2 bên sẽ cập nhật tình hình thị trường giày dép Hoa Kỳ trong bối cảnh dịch Covid 19 và đánh giá triển vọng thời gian tới cũng như cách thích ứng trong bối cảnh mới.

Thông qua hội nghị giao thương này, sẽ giới thiệu định hướng chính sách phía Việt Nam nhằm phát triển ngành giày dép và thúc đẩy hoạt động giao thương trong lĩnh vực giày dép với thị trường Hoa Kỳ - vốn là thị trường xuất khẩu hàng đầu của sản phẩm giày dép Việt Nam trong bối cảnh tình hình mới sau dịch bệnh được kiểm soát ở cả Việt Nam và Hoa Kỳ.

Doanh nghiệp Việt Nam và các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ sẽ hiểu rõ hơn nhu cầu, năng lực của nhau, tiến tới thỏa thuận các cơ hội hợp tác xúc tiến thương mại vì lợi ích của doanh nghiệp đôi bên, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp an toàn vượt qua đại dịch, chuẩn bị sẵn lực lượng ứng phó nhanh với các diễn biến thương mại, diễn biến thị trường sau khi dịch Covid 19 kết thúc, góp phần củng cố quan hệ thương mại đã được xây dựng trên những nền tảng bền vững giữa hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ.

Thời gian qua, mặc dù dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp trên toàn thế giới nhưng không vì dịch bệnh mà hoạt động giao thương bị gián đoạn.

Chỉ trong tháng 4 và tháng 5/2020, Cục Xúc tiến thương mại đã tổ chức nhiều hoạt động giao thương trực tuyến với các thị trường: Vân Nam, Chiết Giang, Trùng Khánh – Trung Quốc; Ấn Độ. Thời gian tới, khi dịch bệnh được khống chế, bên cạnh hình thức xúc tiến thương mại truyền thống, Cục Xúc tiến thương mại tiếp tục tổ chức các hoạt động giao thương với nhiều thị trường: Trung Quốc, Singapore...

“Giày dép là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Năm 2019 được xem là năm thành công của xuất khẩu giày dép khi kim ngạch đạt 18,3 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt 6,65 tỷ USD, tăng 14,2%.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, quý I/2020, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường số 1 nhập khẩu nhóm hàng giày dép các loại của Việt Nam với kim ngạch đạt 1,56 tỷ USD , tăng 10% so với cùng kỳ năm 2019.

Mặc dù xuất khẩu giày dép sang thị trường Hoa Kỳ đạt mức tăng trưởng trong quý I năm nay nhưng trước diễn biến phức tạp của dịch Covid 19, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam cho biết, các hợp đồng đàm phán của quý II và quý III/2020 chưa thể chốt được do lượng tiêu thụ tại Hoa Kỳ trên đà suy giảm. Không chỉ giảm đơn hàng, nhiều đối tác còn đột ngột dừng đơn hàng khiến doanh nghiệp không kịp trở tay.

Đến nay, Việt Nam đã chứng tỏ được với quốc tế về sự thành công trong việc kiểm soát, ngăn chặn lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng. Nhiều chuyên gia dự báo, sau khi khống chế được dịch Covid 19, nhu cầu mặt hàng giày dép tại thị trường Hoa Kỳ sẽ tăng cao. Vì vậy, ngay từ bây giờ các doanh nghiệp giày dép cần thúc đẩy xúc tiến thương mại sang thị trường Hoa Kỳ”.

Anh Vũ,

Link gốc bài viết: https://m.baophapluat.vn/doanh-nhan/chua-tung-co-60-nha-nhap-khau-giay-dep-hoa-ky-se-giao-thuong-truc-tuyen-voi-doanh-nghiep-viet-nam-516403.html

“Mỗi giọt máu cho đi, một cuộc đời ở lại”, không chỉ là một thông điệp mà còn thể hiện ý nghĩa nhân văn sâu sắc của việc hiến máu tình nguyện. Nghĩa cử cao đẹp ấy đang ngày một lan tỏa đến tất cả mọi người, tạo nên hiệu ứng rộng khắp trong toàn cộng đồng, mang lại hy vọng cho những người bệnh cần máu để duy trì sự sống.

“Đòn bẩy” đảm bảo công tác truyền máu

Đầu những năm 1990, ở nước ta, máu để truyền trong những trường hợp cấp cứu chủ yếu được lấy từ người thân của bệnh nhân hoặc được mua từ người bán, chất lượng máu kém, nguy cơ lây nhiễm bệnh qua truyền máu rất cao. Để bảo đảm an toàn truyền máu, năm 1994, Bộ Y tế đã tổ chức thành công “Ngày hiến máu nhân đạo” thu hút đông đảo người dân tham gia.

Sau đó, ngày 7/4/2000, nhân Ngày Sức khỏe thế giới hàng năm và là năm Tổ chức Y tế thế giới lấy là Năm “An toàn truyền máu”, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 43/2000/QĐ-TTg về vận động, khuyến khích nhân dân hiến máu tình nguyện và lấy ngày 7/4 hằng năm là Ngày “Toàn dân hiến máu tình nguyện”. Quyết định được ban hành là bước ngoặt quan trọng cho phong trào hiến máu tình nguyện, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động đối với các cấp chính quyền, đoàn thể từ Trung ương tới địa phương và các tầng lớp nhân dân trong cả nước.

Theo Chủ tịch Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Nguyễn Thị Xuân Thu, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Quốc gia vận động hiến máu tình nguyện, kể từ đó đến nay, ngày 7/4 hằng năm đã trở thành dịp để tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân về mục đích, ý nghĩa cao đẹp của hiến máu cứu người. Đồng thời, đây cũng là dịp khuyến khích, động viên đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia hiến máu tình nguyện, tạo nên phong trào hiến máu lan tỏa, rộng khắp ở các cấp, các ngành và toàn xã hội.

Sau 20 năm phát động Ngày “Toàn dân hiến máu tình nguyện”- 7/4, phong trào hiến máu tình nguyện ở nước ta đã thu được những kết quả đáng khích lệ, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Trong 20 năm, toàn quốc đã vận động, tiếp nhận được trên 16 triệu đơn vị máu. Số lượng máu tiếp nhận được và tỷ lệ người dân tham gia hiến máu năm sau luôn cao hơn năm trước.

Mạng lưới công tác vận động hiến máu tình nguyện toàn quốc đã được hình thành và từng bước hoàn thiện. Cả nước hiện có 100% quận, huyện và gần 85% xã, phường lập Ban Chỉ đạo, gần 4.000 Câu lạc bộ hiến máu tình nguyện với gần 120.000 thành viên. Cùng với đó, nhiều chiến dịch, sự kiện hiến máu lớn được tổ chức tạo dấu ấn thúc đẩy mạnh mẽ phong trào hiến máu của cả nước. Nhiều địa phương đã hưởng ứng tổ chức sự kiện rất quy mô, chuyên nghiệp, bài bản vào các thời điểm khan hiếm máu như: “Lễ hội Xuân hồng”, “Những giọt máu hồng hè”, “Hành trình Đỏ”, “Chủ nhật Đỏ”, Ngày Quốc tế người hiến máu 14/6…

Bà Nguyễn Thị Xuân Thu chia sẻ, hiện nay, cả nước có khoảng 98%  dân số tham gia hiến máu tình nguyện. Kết quả này một phần do Ban Chỉ đạo hiến máu từ Trung ương đến địa phương và Hội Chữ thập đỏ các cấp đã vận động, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về hiến máu tình nguyện.

Bà Nguyễn Thị Xuân Thu đánh giá, 20 năm qua, phong trào hiến máu tình nguyện đã góp phần rất lớn vào công tác giáo dục đạo đức, hướng người dân, đặc biệt là giới trẻ đến với các hoạt động nhân đạo vì cộng đồng. Qua đó, nhận thức của người dân về sức khỏe và phòng chống các bệnh lây qua đường truyền máu ngày càng được nâng cao.

Tích cực vận động và tổ chức hiến máu an toàn giữa đại dịch

Chủ tịch Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Nguyễn Thị Xuân Thu cho biết, hưởng ứng ngày “Toàn dân hiến máu tình nguyện” - 7/4, Ban Chỉ  đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện Trung ương và các cấp đều có kế hoạch triển khai các hoạt động. Hàng năm, đây là dịp có nhiều hoạt động sôi nổi để vận động người dân tham gia hiến máu tình nguyện. Tuy nhiên, năm nay, do tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, công tác tổ chức vận động hiến máu có nhiều khó khăn, thay đổi, ảnh hưởng đến kết quả vận động hiến máu và người cần máu tại các bệnh viện.

Bà Nguyễn Thị Xuân Thu cũng thông tin, từ Tết đến nay, các hoạt động hiến máu vẫn được tổ chức nhưng khó khăn hơn. Số lượng máu tiếp nhận được chỉ bằng khoảng 80% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này đạt được là một sự cố gắng rất lớn của nhiều cán bộ, tình nguyện viên. Lượng máu tiếp nhận được mới chỉ giải quyết được một phần nhu cầu cần máu của người bệnh và hiện vẫn còn rất khó khăn. Vì vậy, nhân kỷ niệm 20 năm Ngày “Toàn dân hiến máu tình nguyện”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có thư kêu gọi toàn dân tham gia hiến máu tình nguyện để cứu người. Thư là sự động viên, khích lệ, kêu gọi rất đúng lúc, kịp thời để mọi người vừa tham gia chống dịch, vừa tích cực hiến máu giúp các bệnh viện có đủ máu cứu người.

Tuy nhiên, trong thời gian dịch COVID-19, người dân một phần ngại di chuyển đến nơi đông người, một phần muốn thực hiện nghiêm việc cách ly hoặc muốn giữ sức khỏe để phòng chống dịch bệnh cho chính mình và gia đình nên ngại tham gia hiến máu tình nguyện. Ngoài ra, sinh viên - lực lượng tham gia hiến máu rất lớn trước đây hiện đang nghỉ học nên số lượng máu tiếp nhận được bị giảm.

Trước tình hình đó, Ban Chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện đã có văn bản chỉ đạo Ban Chỉ đạo vận động hiến máu ở các địa phương, Hội Chữ thập đỏ các cấp triển khai nghiêm túc việc thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về cách ly xã hội, đồng thời lồng ghép các hoạt động tuyên truyền về phòng, chống dịch COVID-19; hướng dẫn người dân cách phòng, chống bệnh; vận động những người có đủ sức khỏe tham gia hiến máu cứu người.

Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Quốc gia vận động hiến máu tình nguyện chia sẻ, để phù hợp với điều kiện hiện tại, cách thức tổ chức hiến máu cũng được thay đổi. Theo đó, các sự kiện hiến máu được tổ chức nhiều ngày hơn; chia thành nhóm nhỏ; bố trí số người đến hiến máu trong cùng một thời gian ít để hạn chế tập trung đông người; tổ chức nghiêm ngặt công tác vệ sinh phòng dịch…

Ban Chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện kêu gọi những người  trẻ, có đủ sức khỏe làm việc ở các công sở, cơ quan, trường học, bệnh viện, khu vực quân đội nhất là các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương là cơ quan thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia hiến máu tình nguyện tham gia hiến máu. Các câu lạc bộ, hội viên, tình nguyện viên chữ thập đỏ tích cực vận động hiến máu, phối hợp tổ chức hiến máu đảm bảo an toàn. Nếu tổ chức được các điểm hiến máu an toàn, chắc chắn vẫn có người đến tham gia hiến máu, bà Nguyễn Thị Xuân Thu khẳng định.

Tin nổi bật