Bộ Công an vừa ban hành Thông tư 58 quy định quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Trong đó, nhiều nội dung sẽ có hiệu lực từ 1/8. Một trong những nội dung quy định mới của Thông tư lần này là việc cấp, đổi biển số cho loại hình xe kinh doanh vận tải.

Từ 1/8: Xe kinh doanh vận tải phải đổi biển số màu trắng sang màu vàng

Cụ thể, tại điểm đ khoản 6 Điều 25 của Thông tư quy định biển số ôtô kinh doanh vận tải sẽ có nền màu vàng, chữ và số màu đen, seri biển số sử dụng lần lượt một trong 20 chữ cái sau: A, B, C, D, E, F, G, H, K, L, M, N, P, S, T, U, V, X, Y, Z.

Đồng thời, tại Thông tư 58 cũng quy định thay đổi về kích thước của biển số ôtô. Theo đó, ôtô rơmoóc, sơmi rơmoóc trong nước hoặc có kết cấu tương tự được lắp ráp trong nước sẽ được gắn 2 biển số ngắn với kích thước mới có chiều cao là 165 mm, chiều dài là 330 mm. Riêng đối với xe chuyên dùng khi được cơ quan chức năng cấp phép sẽ được đổi sang 2 biển số có kích thước, chiều cao là 110 mm, chiều dài 520 mm, hoặc 1 biển số ngắn và 1 biển số dài, kinh phí phát sinh do chủ xe chịu trách nhiệm.

Về lộ trình, Thông tư quy định, các xe kinh doanh vận tải đăng ký mới sẽ bắt đầu chuyển sang biển màu vàng từ ngày 1/8. Ngoài ra, đối với các phương tiện kinh doanh hoạt động trước ngày Thông tư 58 có hiệu lực sẽ phải chuyển đổi sang biển vàng trước ngày 31/12/2021. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/8/2020.

Đánh giá về quy định này, ông Nguyễn Công Hùng, Chủ tịch Hiệp hội taxi Hà Nội cho rằng, việc quy định xe kinh doanh vận tải có màu biển số riêng sẽ giúp cơ quan quản lý sẽ quản được tất cả phương tiện kinh doanh vận tải, nhà nước sẽ thu được thuế.

“Bên cạnh đó, việc này cũng dễ dàng phân luồng giao thông đối với những tuyến đường cấm xe kinh doanh vận tải. Lực lượng chức năng xử lý vi phạm trên đường cũng dễ dàng nhận biết đâu là xe kinh doanh vận tải, đâu là xe cá nhân để xử lý”, ông Hùng nói.

 

Ngày 14/02/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 200/QĐ-TTg năm 2017 về việc phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025. Đây là lần đầu tiên chúng ta có một kế hoạch hành động quốc gia về phát triển ngành dịch vụ logistics một cách toàn diện. Một trong các mục tiêu cụ thể được đề ra trong Kế hoạch hành động là phấn đấu đến năm 2025: Chi phí logistics giảm xuống tương đương 16% - 20% GDP. Vậy, con số “20,9% GDP” được xuất phát từ đâu? Cho đến nay, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn trong việc thống kê các chi phí logistics.

 

Ngoài báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố tháng 3/2014, về “Dịch vụ tư vấn: Hỗ trợ Bộ Giao thông vận tải về Phát triển vận tải đa phương thức” do Công ty tư vấn ALG thực hiện, thì chưa có nghiên cứu hoặc báo cáo chính thức nào của các cơ quan quản lý ngành dịch vụ logistics Việt Nam cung cấp đầy đủ thông tin về chi phí logistics. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, chi phí logistics quốc gia của Việt Nam tương ứng với các ngành sản xuất giá trị gia tăng của quốc gia là 413.141 tỷ đồng. Con số này đại diện cho 20,9% tổng sản phẩm quốc nội GDP (1.980.914 tỷ đồng trong năm 2010). Con số này nếu so sánh với chi phí logistics/GDP ở Mỹ, Nhật Bản hoặc các nước Tây Âu thì thật sự là ở mức cao. Tuy nhiên, nếu so với các nước đang phát triển, những thị trường mới nổi có GDP tương đồng với Việt Nam thì con số này không phải là quá cao. Dựa vào cách tính của ALG, Hiệp hội VLA đã tính chi phí logistics của Việt Nam năm 2017 ở mức 14,5% - 19,2% GDP, trung bình hiện nay là 16% - 17%. Trong khi, chi phí logistics/GDP năm 2016 của Singapore 8,5%, Indonesia 24%, Thái Lan 15%, Malaysia 13%, Philipines 13% (Tham khảo trang 59, Sách trắng VLA 2018).

ALG đã dùng phương pháp tính chi phí logistics cụ thể cho 12 chuỗi ngành hàng, gồm: Hàng điện tử và linh kiện, thiết bị điện, dệt may, công nghiệp ô tô, dược phẩm, rau quả, giày dép, hải sản, gạo, cà phê, đồ uống và nội thất. Sau đó, nội suy ước tính và rút ra kết luận chi phí logistics quốc gia của Việt Nam tương ứng với tất cả các ngành sản xuất giá trị gia tăng trong nước. Chi phí logistics tính bình quân (mỗi mặt hàng chi tiết có khác nhau) bao gồm: Chi phí vận tải 60%, trong đó, vận tải (transport) 59% và cảng phí (port charge)1%; Chi phí tồn kho (inventory costs) và chi phí quản lý (administration costs) 40%, trong đó: lưu kho bãi (Storage) 11%, xếp dỡ hàng hóa (Handling) 21%, đóng gói (Packing 8%). Cách tính này phù hợp với cách tính chi phí logistics của nhiều nước như: Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Thái Lan… Báo cáo của ALG cũng đưa ra con số cụ thể về chi phí logistics chiếm trong giá thành sản phẩm: Hàng điện tử và linh kiện 1,2%; Thiết bị điện 3,5%; Dệt may 9,3%; Ô tô: 2%; Dược phẩm 0,3%; Rau quả: 29,5%; Giày dép 11,7%; Hải sản 12,2%; Gạo 29,8%; Cà phê 9,5%; Đồ uống 19,8%; Nội thất 22,8%. Chi phí logistics tính cho 12 ngành hàng được khảo sát trực tiếp là 10,85%, nếu không tính 2 ngành Dược phẩm và Đồ uống 10,70%.

Tỷ lệ % của chi phí logistics tương đương với GDP phụ thuộc vào tổng chi phí logistics và tổng GDP. Năm 2018, GDP của Việt Nam là 5.535,3 tỷ đồng, gấp 2 lần quy mô GDP 2011. Như vậy so sánh GDP của nước ta năm 2010 mà Công ty tư vấn ALG tính GDP (1.980.914 tỷ đồng) thì thấy GDP của 2018 gấp hơn 2 lần. Hiện nay, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam đã thay đổi lớn. Hàng điện tử và linh kiện xuất khẩu tăng nhanh. Trong năm 2018, có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 91,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đáng chú ý, trong đó 9 mặt hàng đạt 5 tỷ USD và 5 mặt hàng trên 10 tỷ USD. Đó là điện thoại và linh kiện 50 tỷ USD; Dệt may 30,4 tỷ USD (2010 là 11,2 tỷ USD); Điện tử, máy tính và linh kiện 29,4 tỷ USD (2010 là 3,6 tỷ USD); Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 16,5 tỷ USD (2010 là 3 tỷ USD); Giày dép 16,3 tỷ USD; Thủy sản 8,8 tỷ USD (2010 là 4,9 tỷ USD); Rau quả 3,8 tỷ USD; Cà phê đạt 3,5 tỷ USD. Điều đó cho thấy chi phí logistics có sự thay đổi lớn.

So sánh chi phí logistics cho 10 trong tổng số 12 ngành hàng được nghiên cứu theo báo cáo của ALG vào 2010 và cập nhật số liệu của 2018 có thể thấy khi cơ cấu ngành thay đổi thì chi phí logistics cũng thay đổi theo, cụ thể chi phí logistics giảm từ 10,70% xuống còn 8,74% cho 10 ngành hàng. Năm 2018, LPI của Việt Nam là 39/160, có bước tiến vượt bậc so với 2010 là 53/160. Đứng thứ 3 trong các nước ASEAN, chỉ sau Singapore và Thái Lan. Điều này cho thấy chi phí logistics của Việt Nam đã được cải thiện nhiều. Chi phí logistics tương đương với GDP của Việt Nam năm 2017 ở mức 14% - 19,2%. Con số trung bình hiện nay là khoảng 16% - 17% do Hiệp hội VLA đã tính toán và công bố trong Sách Trắng – VLA 2018 là rất đáng tin cậy.

Chi phí các nước phát triển và các nước trong trong khu vực ASEAN đều tính toán và công bố chi phí logistics quốc gia theo hàng năm, giúp cho việc điều hành và phát triển ngành dịch vụ logistics . Một số tổ chức nghiên cứu quốc tế, như Armstrong & Associates, Inc. (Mỹ), hàng năm đều có nghiên cứu và công bố về chi phí dịch vụ logistics của các nước dựa trên công bố chính thức của các nước. Theo báo cáo của Công ty này công bố tháng 02/2018 thì, chi phí logistics của một số nước như sau: Mỹ 8,2%, Trung Quốc 14,5%, Malaysia 13%, Philipine 13%, Thái Lan 15% và Singapore 8,5%. Thái Lan trong Chiến lược phát triển logistics 2007 - 2011 đề ra mục tiêu giảm chi phí logistics từ 19% năm 2005 xuống còn 16% năm 2011, năm 2017 giảm chỉ còn 15%. Điều này rất đáng chú ý với chúng ta. Chỉ thị 21/CT-TTg ngày 18/7/2018 về đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm giảm chi phí logistics, kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông có giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê và thu thập dữ liệu thống kê về logistics. Đã đến thời điểm, các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương cần công bố chính thức về chi phí logistics của Việt Nam hàng năm, nhằm thực hiện có hiệu quả công tác quản lý và phát triển ngành dịch vụ logistics - một ngành mang lại giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế và đặc biệt là xuất nhập khẩu hàng hóa của đất nước; để mọi người hiểu đúng, nói đúng và viết đúng về chi phí logistics của Việt Nam.

Theo VLR.

Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) xin thông báo:  Hiệp hội đã có sách  “INCOTERMS 2020: Giải thích và Hướng dẫn sử dụng (Thực tiễn và lưu ý sử dụng thông qua các tranh chấp phổ biến) để cung cấp cho Quý Hội viên.

+) Hội viên VLA sẽ được mua với giá ưu đãi là : 220,000 VNĐ/cuốn (Hội viên chi trả phí shipping). Hiệp hội sẽ gửi Phiếu thu sau (nếu có nhu cầu). Riêng các cá nhân hay Doanh nghiệp chưa phải là Hội viên VLA sẽ mua với giá: 250,000 VNĐ/cuốn.

 “INCOTERMS 2020: được biên soạn bởi các chuyên gia hàng đầu, có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực mua bán ngoại thương – Ls. Võ Nhật Thăng, nguyên Trọng tài viên VIAC,  Ls. Ngô Khắc Lễ, Trọng tài viên VIAC và ThS. Tô Bình Minh, thành viên Hội đồng Khoa học VIAC. 

 Nội dung cuốn sách gồm 4 chương:

         Chương 1: Giới thiệu với người đọc khái niệm về Incoterms cùng với quá trình hình thành và phát triển. Chương này cũng nhấn mạnh đến vai trò và tác dụng của Incoterms đối với thương nhân. Người đọc cũng  có thể hệ thống các quy tắc Incoterms thông qua những cách phân loại trong chương này.

         Chương 2: Tóm tắt nội dung 11 quy tắc mới nhất của Phòng Thương mại Quốc tế để giải thích các điều kiện thương mại nội địa và quốc tế được sử dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa.  Các chú giải trước mỗi  quy tắc và 10 cặp nghĩa vụ của người bán và người mua trong 11 quy tắc cũng được trích dẫn đầy đủ trong chương này.

         Chương 3: Hướng dẫn các thương nhân sử dụng Incoterms bắt đầu từ những hướng dẫn chung cho đến những hướng dẫn cụ thể. Từ những hướng dẫn này, các thương nhân hiểu rõ hơn Incoterms cũng như   có thể lựa chọn Incoterms phù hợp nhất cho từng giao dịch và quy định các điều kiện cần thiết trong hợp đồng để bảo vệ quyền lợi của mình.

         Chương 4: Tập hợp và phân loại 31 tranh chấp trong thương mại liên quan đến Incoterms để minh họa cho những phân tích và bình luận để người đọc có thêm những bài học kinh nghiệm khi sử dụng Incoterms”.

      Quý Hội viên có nhu cầu mua sách xin gửi email đăng ký về địa chỉ: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. hoặc This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.Vui lòng ghi rõ tên công ty, địa chỉ nhận sách và chuyển khoản về tài khoản của Hiệp hội như sau:

 

Người thụ hưởng:    HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ LOGISTICS VIỆT NAM

Số tài khoản:            0071001850532

Ngân hàng:               Vietcombank (VCB) chi nhánh Tân Định, TP.HCM

Nội dung:                  Công ty  ………… nộp tiền mua sách Incoterms 2020.

Số tiền:                      ……………………đồng  

Trân trọng cảm ơn,

Kinh tế số của Việt Nam tăng trưởng như "rồng được tháo xích"

Phát biểu tại Diễn đàn Chuyển đổi số trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa vừa diễn ra, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt sự ứng dụng sâu rộng các thành tựu công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, Chuyển đổi số là một vấn đề sống còn trong quá trình phát triển kinh doanh. 

Theo đánh giá của các chuyên gia, chuyển đổi số sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ tìm kiếm một mô hình hoạt động kinh doanh linh hoạt hơn, vừa tiết giảm chi phí, vừa tối ưu nguồn lực để vượt qua khó khăn. “Từ trước đại dịch Covid-19, International Data Coperation đã dự báo, đến năm 2022, giá trị chuyển đổi số trên thế giới ước đạt 2.000 tỷ USD và tăng trưởng cao gấp 4 lần so với mức tăng trưởng trung bình của thị trường dịch vụ công nghệ thông tin. Sau đại dịch, mọi việc có thể còn tiến nhanh hơn nữa”, Chủ tịch VCCI thông tin.

Tại Việt Nam, theo Báo cáo về nền kinh tế số tại Đông Nam Á của Google, Tamesek và Bain & Company năm 2019, kinh tế số của Việt Nam và Indonesia tăng trưởng như "rồng được tháo xích" và dẫn đầu khu vực Đông Nam Á (khoảng 38%) và dự kiến có thể đạt mục tiêu 43 tỷ USD vào năm 2025.

Theo ông Vũ Tiến Lộc, một số thách thức, rào cản trong quá trình chuyển đổi kỹ thuật số mà các doanh nghiệp đang gặp phải như thiếu kỹ năng số và nhân lực, thiếu nền tảng công nghệ thông tin đủ mạnh để cho phép chuyển đổi kỹ thuật số, thiếu tư duy kỹ thuật số hoặc các thách thức về văn hóa kỹ thuật số trong doanh nghiệp,… Mỗi bước đi, quyết định đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT đòi hỏi năng lực về tài chính vững mạnh, thứ mà hầu hết các doanh nghiệp đang còn rất hạn chế. 

Ông Vũ Tiến Lộc nhấn mạnh: “Tư duy chính là rào cản lớn nhất của doanh nghiệp khi chuyển đổi số, hệ lụy của việc này khiến các doanh nghiệp rơi vào tình trạng gọi là “thờ ơ với kỹ thuật số”, điều này thể hiện ở chỗ các nỗ lực kỹ thuật số của doanh nghiệp chỉ dừng ở mức phản ứng với thay đổi của thị trường nhiều hơn là phát triển theo các phương thức chủ động, nhiều doanh nghiệp vẫn chỉ coi IT là khoản chi phí cần thiết chứ không phải nguồn đầu tư cho thúc đẩy lợi thế cạnh tranh”. 

Các doanh nghiệp cần thiết lập được hệ thống quản trị hiện đại

Chủ tịch VCCI cho biết, chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh nói chung của doanh nghiệp đã là một thách thức không nhỏ thì chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đòi hỏi phải có sự liên kết giữa nhiều bên giữa các Bộ ngành, các cơ quan hữu quan và doanh nghiệp nằm trong mạng lưới hoạt động xuất nhập khẩu như C/O, hải quan, thuế, logistics, ngân hàng ... 

Muốn chuyển đổi số thành công, các doanh nghiệp cần thiết lập được hệ thống quản trị hiện đại, triệt để ứng dụng công nghệ số tích hợp vào toàn bộ quy trình kinh doanh, các hoạt động của doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp nên khẩn trương xây dựng, thực thi hiệu quả Kế hoạch chuyển đổi số. 

“Để làm được và làm thành công chương trình Chuyển đổi số doanh nghiệp. Tôi nghĩ cộng đồng doanh nghiệp cần đổi mới mạnh mẽ về nhận thức, tư duy, quyết tâm hành động, tôi cũng kêu gọi sự vào cuộc của cả xã hội, nhưng trước hết là với chính doanh nghiệp, doanh nhân, tôi mong muốn các doanh nhân, doanh nghiệp ‘’tăng tốc hơn nữa, quyết tâm hơn nữa, táo bạo hơn nữa’’ trong việc thay đổi nhận thức về ứng dụng thành tựu công nghệ mới, cách thức quản trị và hành động phù hợp với xu hướng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; nhanh chóng xác lập, thực thi chương trình kế hoạch, chiến lược chuyển đổi số, xây dựng doanh nghiệp số, bám sát mục tiêu hiệu quả, tập trung vào khách hàng và tập trung vào cải tiến; kinh doanh bài bản, có hiệu quả trên nền tảng kế hoạch, chiến lược được xây dựng”, Chủ tịch VCCI chia sẻ.

Theo “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, với tầm nhìn đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới. 

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia hướng tới mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu, với một số chỉ số cơ bản cụ thể. Điều này cho thấy Việt Nam đang bước vào giai đoạn cải cách theo chiều sâu, và cần phải có những động lực mạnh mẽ hơn trong cải cách thể chế, phương thức nhằm tạo ra môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. 

Những phương thức hoạt động phục vụ công tác xuất nhập khẩu thông thường như hiện nay đang dần được thay đổi, cải thiện nhằm bắt kịp với nhu cầu thực tế của thời đại kinh tế số. Chúng ta cần tập trung hơn vào việc cải cách thể chế, xây dựng hệ thống hành chính theo hướng hiệu quả, tinh gọn nhằm phục vụ hiệu quả, đảm bảo cho hoạt động xuất nhập khẩu và kinh doanh bền vững của doanh nghiệp. 

Theo: Vnmedia.vn (https://vnmedia.vn/kinh-te/202007/chuyen-doi-so-se-giup-doanh-nghiep-viet-nam-vuot-qua-kho-khan-b7361f5/)

Ngày 01 tháng 6 năm 2020, Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) đã ban hành một loạt các hướng dẫn về y tế khi ngành công nghiệp hàng không vốn chịu thiệt hại năng nề do đại dịch Covid-19 bắt đầu hoạt động trở lại, trong đó bao gồm khuyến cáo hành khách đeo khẩu trang, kiểm tra nhiệt độ và khử trùng máy bay.

Hướng dẫn trên được ICAO soạn thảo với sự hỗ trợ của các cơ quan thuộc Liên hợp quốc như Tổ chức y tế thế giới (WHO) và Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA).

Văn bản này được thông qua vào tối ngày 01 tháng 6, đưa ra những quy định chung để đảm bảo an toàn cho hành khách và nhân viên trên máy bay cũng như tại sân bay.

Khi đến sân bay, hành khách xuất trình giấy chứng nhận sức khỏe và kiểm tra thân nhiệt. Hành khách cũng nên thực hiện thủ tục đăng ký trực tuyến trước khi đến sân bay và cổng an ninh cần được sắp xếp lại nhằm hạn chế tiếp xúc giữa các hành khách vào chờ xếp hàng.

ICAO cũng khuyến cáo tăng cường sử dụng vé điện tử cũng như các công nghệ không tiếp xúc khác như nhận diện khuôn mặt hay quét võng mạc và mống mắt.

Những biện pháp này được cho là nhằm loại bỏ hoặc giảm đáng kể khả năng tiếp xúc qua giấy tờ giữa nhân viên các hãng hàng không và hành khách.

Theo ICAO, hành khách nên di chuyển với hành lý nhẹ nhàng nhất có thể, chỉ một túi hành lý xách tay nhỏ. Báo hay tạp chí cũng không được sử dụng trên máy bay như trước đây và việc bán hành miễn thuế cũng bị hạn chế.

Hành khách cũng bắt buộc phải đeo khẩu trang khi đi vào khu vực các nhà ga sân bay cũng như trên máy bay, nơi cũng phải giữ khoảng cách tối thiểu 01m.

Đường vào nhà ga cũng sẽ được hạn chế hành khách và người đi cùng như người khuyết tật và nhân viên sân bay. Trên máy bay, hành khách nên hạn chế di chuyển và không xếp hàng bên ngoài nhà vệ sinh nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm vi  rút Covid-19.

Hành khách sẽ được hướng dẫn sử dụng nhà vệ sinh dựa trên khu vực ghế ngồi trên máy bay. ICAO cũng yêu cầu tiếp viên hàng không phải được cung cấp các thiết bị bảo hộ cá nhân, bao gồm kính che mặt, găng tay và khẩu trang y tế.

Tuy nhiên, ICAO không khuyến khích để chỗ ngồi trống xen kẽ giữa các hành khách trên máy bay nhằm bảo đảm giãn cách, một biện pháp mà ngành hàng không cho là mối đe dọa đối với doanh thu.

Mặc dù vậy, ICAO vẫn yêu cầu hành khách duy trì khoảng cách xa nhất có thể. Theo ICAO, đồ ăn trên máy bay cũng nên được đóng gói sẵn và máy bay phải được khử trùng thường xuyên.

Giới chức ICAO khẳng định các biện  pháp trên sẽ tạo điều kiện cho ngành hàng không hoạt động trở lại một cách an toàn và bền vững.

Hàng không là một trong những ngành chịu thiệt hại nặng nề nhất do các nước trên thế giới đóng cửa biên giới cũng như hạn chế đi lại nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan.

ICAO ước tính tới cuối năm nay, ngành hàng không sẽ mất khoảng 1,5 tỷ lượt hành khách do đại dịch Covid-19.

Tham khảo: Cục Hàng không Việt Nam http://caa.gov.vn/
70% các doanh nghiệp có nhà máy ở Nhật Bản sẽ điều chỉnh lại chuỗi cung ứng của họ, một cuộc khảo sát của Nikkei cho thấy, nhấn mạnh những nỗ lực của công ty để tiến tới một sự bình thường mới trong bối cảnh rủi ro dịch bệnh vẫn tiếp diễn.

Nhiều hoạt động kinh doanh có thể sẽ thay đổi, vì đại dịch vẫn còn tiếp tục diễn biến phức tạp trên thế giới và các công ty vẫn phải đối mặt với những cản trở lớn.

Cuộc khảo sát của các chủ tịch và các nhà lãnh đạo hàng đầu khác của các công ty lớn đã được tiến hành vào ngày 25-28 /5, sau khi Nhật Bản dỡ bỏ những hạn chế cuối cùng của tình trạng ứng phó dịch bệnh khẩn cấp trên toàn quốc. 132 doanh nghiệp được khảo sát đã phản hồi các vấn đề điều tra.

Trong số các công ty vận hành các nhà máy ở Nhật Bản, 72,1% cho rằng cần phải thay đổi chuỗi cung ứng. Khi được hỏi họ có ý định thay đổi gì, 65,3% cho biết họ muốn khả năng chuyển đổi nguồn cung ứng linh hoạt hơn trong trường hợp khủng hoảng và 57,1% cho biết họ sẽ ngừng việc phụ thuộc mua hàng vào một quốc gia để đa dạng hóa nguồn cung.

Đối với các bước an toàn mà những các doanh nghiệp đang vận hành các nhà máy tại Nhật Bản, 75% đang tiến hành kiểm tra nhiệt độ của công nhân và 60,2% đang nỗ lực duy trì khoảng cách địa lý giữa các nhân viên.

Đại dịch Covid-19 cũng đang thay đổi cách mọi người làm việc, vì 90,9% các công ty có kế hoạch tiếp tục chính sách làm việc từ xa cho hầu hết cho các văn phòng.

Tổng cộng, 63,2% số người được hỏi cho biết một nửa hoặc nhiều công nhân của họ sẽ làm việc từ xa, bao gồm 4,6% cho biết tất cả công nhân sẽ làm như vậy. Và 89,4% dự định sẽ duy trì chính sách giờ linh hoạt để giảm mật độ của mọi người tại nơi làm việc.


Các nhân viên khẩu trang làm việc trên dây chuyền lắp ráp ô tô tại nhà máy của Mitsubishi Fuso Truck and Bus ở Kawasaki, Nhật Bản. © Reuters

Đại dịch đã đẩy nhanh sự chuyển đổi sang kỹ thuật số, với 63,6% số doanh nghiệp đang tìm cách tăng đầu tư vào kỹ thuật số. Chi tiêu cho thiết bị cho phép làm việc từ xa đã được trích dẫn bởi 87%, trong khi 63,6% có ý định tăng cường bảo mật thông tin, an ninh mạng khi tổ chức làm việc trực tuyến, từ xa. 61% có kế hoạch cho phép xử lý giấy tờ nội bộ trực tuyến, báo hiệu sự thay đổi trong thực tiễn kinh doanh của Nhật Bản về việc kí tá phê duyệt trên các tài liệu giấy.

Cuộc khảo sát cho thấy mối lo ngại lan rộng rằng suy thoái kinh tế sẽ kéo dài, vì 41,5% các công ty không hy vọng thị trường của họ sẽ trở lại mức trước đại dịch trong vòng một năm tới. 29,3% dự đoán kinh tế sẽ phục hồi trong hai năm.

"Tốc độ phục hồi tùy thuộc vào lĩnh vực và khu vực, do đó, sẽ mất ba năm để có được sự phục hồi tổng thể", Kohei Morikawa, chủ tịch và CEO của nhà sản xuất vật liệu Showa Denko cho biết.

Nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp lo lắng về việc mất khách hàng, vì lối sống và hoạt động kinh tế thay đổi trong khi người tiêu dùng ở nhà trong một thời gian dài. Các công ty sẽ cần tận dụng tối đa các cơ hội để có thể tồn tại.

"Chúng tôi đang giới thiệu một nhãn hiệu giá rẻ cho người tiêu dùng trong bối cảnh phải thắt lưng buộc bụng vì dịch bệnh,  ngoài việc cung cấp hàng hóa cao cấp cho những người “mệt mỏi” vì tiết kiệm tiền", Takashi Sawada, chủ tịch chuỗi cửa hàng tiện lợi FamilyMart cho biết.

VITIC biên dịch từ 

https://asia.nikkei.com/Business/Business-trends/70-of-Japan-execs-plan-changes-to-supply-chain-Nikkei-survey

Sáng ngày 18/6, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (BR - VT) đã diễn ra hội thảo Tiếp tục thực hiện các giải pháp phát triển cảng biển và dịch vụ hậu cần cảng tỉnh BR - VT. Với những tiềm năng và lợi thế sẵn có, nếu được khai thác tốt, cụm cảng Cái Mép - Thị Vải sẽ tạo ra sự phát triển đột phá cho ngành cảng biển Việt Nam. Tham dự Hội thảo có ông Nguyễn Hồng Lĩnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh BR -VT; ông Nguyễn Văn Thọ, Chủ tịch UBND tỉnh BR - VT; ông Nguyễn Văn Công, Thứ trưởng Bộ GTVT, cùng đại diện các Bộ, Ngành và các chuyên gia, doanh nghiệp cảng biển.

Quang cảnh Hội nghị sáng ngày 18/6 tại tỉnh BR - VT

Phát biểu khai mạc tại Hội thảo, ông Nguyễn Văn Thọ - Chủ tịch UBND tỉnh cho biết, dịch vụ cảng biển và logistics được xác định là lĩnh vực kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của BR-VT. Dự kiến giai đoạn 2016 - 2020, tổng sản lượng hàng hóa bằng tàu biển tăng 10%. Cụ thể, hàng container bằng tàu biển tăng trưởng bình quân trên 20%/năm. Nếu chỉ tính lượng hàng bằng tàu biển, hiệu suất khai thác cảng trên địa bàn tỉnh đến năm 2019 đạt 53%. Công suất khai thác hàng container tăng từ 20% năm 2015 lên 53% năm 2019.

Hiện nay, rào cản lớn nhất hạn chế sự phát triển của cụm cảng CM-TV vẫn là thiếu sự đồng bộ trong hạ tầng giao thông kết nối cảng; thiếu cở hạ tầng dịch vụ sau cảng; các thủ tục thông quan hàng hóa vẫn còn nhiều hạn chế… Những điều này làm tăng chi phí, chưa thật sự thu hút doanh nghiệp đưa hàng về cảng. Nhiều ý kiến đóng góp đã được đưa ra tại Hội thảo.

Ông Nguyễn Năng Toàn, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn kiến nghị, Bộ GTVT, các Bộ, ngành liên quan cần tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dự án cầu Phước An kết nối đường liên cảng tỉnh BRVT với khu vực Nhơn Trạch (tỉnh Đồng Nai) và cao tốc Bến Lức – Long Thành. Tuyến này được đưa vào hoạt động, cùng với cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu đang triển khai đầu tư sẽ giúp cho giao thông kết nối các tỉnh miền Tây Nam Bộ qua TP. HCM, Đồng Nai đến BR-VTđược nhanh chóng, thuận tiện, giảm áp lực giao thông cho Quốc lộ 51 hiện đang ngày càng quá tải. Khi triển khai xây dựng tuyến cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, cần có phương án quỹ đất cho tuyến đường sắt chạy song song và các trạm/ga dừng tại các khu tập trung nhiều hàng hóa để có thể phát triển phương án kết nối đường sắt cho cả hàng hóa và vận chuyển hành khách trong tương.

Bà Đặng Thị Minh Phương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics cho rằng, cần xác định cụm cảnng CM-TV, bao gồm Cảng Cái Mép Hạ là một lợi thế cạnh tranh không chỉ của địa phương mà là của cả quốc gia trong chiến lược phát triển trở thành cảng trung chuyển của khu vực. Bà Phương nhấn mạnh, cơ sở hạ tầng của hệ thống CM-TV là lợi thế cạnh tranh phần cứng là điều kiện cần, tuy nhiên, tỉnh BR-VT phải tiếp tục cùng các nhà khai thác cảng có chiến lược thu hút các hãng tàu chọn CM-TV là cảng nằm trong hệ thống hải hành quốc tế của các Hãng tàu lớn thì mới có thêm điều kiện đủ.

Ông Trần Hoàng Vũ, Giám đốc khai thác Hãng tàu Maersk kiến nghị, luồng hành hải CM-TV cần được tiếp tục duy tu, nạo vét và mở rộng hơn nữa. Ông Vũ cho biết, mặc dù nhận được sự quan tâm và tạo điều kiện từ Cảng vụ hàng hải Vũng Tàu, Cục Hàng hải Việt Nam trong việc thí điểm đưa các tàu lớn đặc biệt là các tàu mẹ tuyến châu Âu, tuy nhiên độ sâu luồng và chiều rộng luồng hành hải hiện nay thực chất vẫn chưa đáp ứng được hoàn toàn xu thế gia tăng cỡ tàu mẹ trên thế giới. Các tàu hiện nay vẫn phải chờ con nước phù hợp để đủ điều kiện hành hải an toàn dẫn tới lãng phí chiếm dụng cầu bến, chi phí nhiên liệu để bắt kịp cảng kế tiếp.

Ông Nguyễn Văn Công, Thứ trưởng bộ GTVT cho biết, Bộ và các ban ngành liên quan đang tiến hành các giải pháp nạo vét duy tu luồng hành hải CM-TV đưa luồng tàu xuống còn 15,5m để đón được những tàu 20.000 – 24.000 TEUs bất cứ lúc nào mà không phải phụ thuộc vào thủy triều như hiện nay, theo kế hoạch trung hạn đến năm 2025 sẽ hoàn thành. Còn dự án cao tốc Vũng Tàu - Biên Hòa hiện đã được giao về cho tỉnh thực hiện, tuyến Bến Lức - Long Thành hiện đang báo cáo Chính phủ xin ý kiến thực hiện.

Kết thúc Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy BR-VT Nguyễn Hồng Lĩnh khẳng định, để phát huy tối đa lợi thế của cụm cảng CM-TV, tỉnh sẽ tập trung các giải pháp kết nối giao thông đường bộ, đường sắt liên cảng, thực hiện bằng được các tuyến cao tốc theo kế hoạch. Hiện tỉnh đã chuẩn bị quỹ đất hơn 2.000 ha để phát triển trung tâm logistics và các dịch vụ sau cảng; đồng thời phải hình thành được trung tâm kiểm tra hàng hóa hiện đại nhằm tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong việc thông quan hàng hóa. Tỉnh sẽ tập trung chọn lựa các nhà đầu tư đủ năng lực để thực hiện các dự án quan trọng như: trung tâm logistics Cái Mép Hạ, trung tâm logistics Lam Sơn, các đường giao thông kết nối… nhằm tạo sức bật mới cho BR-VT.
 
Box thông tin: Dài hơn 20 km, cảng Cái Mép - Thị Vải có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới năm 2017 và là một trong 21 cảng trên thế giới có thể đón tàu đến 200.000 tấn. Cảng này năm 2012 chỉ vài chục nghìn container hàng xuất nhập khẩu thì cuối năm ngoái tăng gấp 10 lần. Hàng hóa các tỉnh kinh tế trọng điểm phía Nam có sự dịch chuyển lớn từ cảng ở TP HCM về Cái Mép - Thị Vải. Chiếm 30% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu bằng container cả nước, cảng Cái Mép - Thị Vải được kỳ vọng sẽ trở thành cửa ngõ giao thương phía Nam.
 
Nguồn: VLR

Theo quy định hiện nay, doanh nghiệp nước ngoài có tỷ lệ góp vốn quá 51% không được cấp phép kinh doanh vận tải tại Việt Nam...

TIEUDE_BAIVIET_KHONGDAU

 

Theo Bộ GTVT cho biết, Hiệp định về Thương mại và các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam quy định, kể từ ngày gia nhập, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa và vận tải hành khách thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh. Trong đó, tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không quá 49%.

"Sau 3 năm kể từ khi gia nhập, tùy theo nhu cầu thị trường, được phép thành lập liên doanh để cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa, trong đó, tỷ kệ góp vốn của phía nước ngoài không được vượt quá 51% và 100% lái xe của liên doanh phải là công dân Việt Nam", Bộ GTVT thông tin.

Vừa qua, Bộ GTVT có văn bản trả lời Công ty cổ phần Vinacaptal Việt Nam (có vốn góp sở hữu nước ngoài trên 51%) đề nghị một số nội dung liên quan đến quy định tại Nghị định 10/2020 và dự kiến đầu tư phương tiện vận chuyển phát bưu kiện khách hàng theo đúng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Đối với đề nghị hướng dẫn “xin cấp phù hiệu xe, giấy phép đăng ký kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe ô tô để sở hữu và sử dụng xe tải phục vụ hoạt động bưu chính, chuyển phát theo ngành nghề kinh doanh, Bộ GTVT cho biết, tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 10 quy định: "Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô là việc thực hiện ít nhất một trong các công đoạn chính của hoạt động vận tải (trực tiếp điều hành phương tiện, lái xe hoặc quyết định giá cước vận tải) để vận chuyển hành khách, hàng hóa trên đường bộ nhằm mục đích sinh lợi".

Cũng theo Bộ GTVT, công hàm số 97/2020 của Công ty cổ phần Vinacaptal Việt Nam cho thấy, công ty có tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài vượt quá 51% và dự kiến sử dụng phương tiện để phục vụ cho hoạt động bưu chính, chuyển phát theo ngành nghề kinh doanh và giấy phép bưu chính của công ty. Do vậy, hiện nay khi doanh nghiệp có tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài vượt 51% thì trong giấy chứng nhận đầu tư không có mã ngành kinh doanh vận tải theo quy định nên không được cấp giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô. Theo quy định tại Nghị định số 10/2020 cũng không thuộc đối tượng để cấp giấy phép kinh doanh vận tải.

"Hiện đối với quản lý hoạt động vận tải nội bộ bằng xe ô tô (không kinh doanh vận tải), Bộ GTVT đang triển khai thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao tại khoản 10 Điều 23 của Nghị định số 10/2020. Theo đó Bộ GTVT đang tiến hành lập hồ sơ trình Chính phủ để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao Chính phủ quy định về quản lý hoạt động vận tải nội bộ bằng xe ô tô (không kinh doanh vận tải). Vì vậy, nội dung này sẽ triển khai khi có quy định mới", Bộ GTVT cho biết.

Nguồn: Báo Giao thông (https://www.baogiaothong.vn/doanh-nghiep-nuoc-ngoai-co-duoc-phep-kinh-doanh-van-tai-o-viet-nam-d469542.html)

Sở Giao thông vận tải TP.HCM vừa báo cáo UBND TP về tình hình xây dựng đề án thu phí sử dụng công trình, kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu cảng biển TP.

Theo Sở Giao thông vận tải, tại TP.HCM cảng biển được phân loại thành 4 khu bến chính gồm: khu bến cảng Cát Lái (7 bến cảng); khu bến cảng trên sông Sài Gòn (12 bến cảng), khu bến cảng Hiệp Phước (12 bến cảng), khu bến cảng Nhà Bè (11 bến cảng).

Hệ thống đường bộ kết nối cảng biển của TP đóng vai trò quan trọng trong hoạt động vận chuyển hàng hóa.

Với tốc độ tăng trưởng hàng hóa bình quân 5%/năm, sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển chủ yếu bằng đường bộ nên xe chở hàng ra vào cụm cảng rất lớn. Trung bình mỗi ngày có khoảng 26.000 lượt xe sử dụng tuyến đường của TP ra vào cảng biển.

Xe đông, hàng hóa tăng nhưng hệ thống đường bộ kết nối cảng phát triển chậm dẫn đến ùn tắc kéo dài. Đây là điểm nghẽn phát triển kinh tế mặc dù những năm qua TP đã đầu tư hàng ngàn tỉ đồng để làm đường trục, nhánh kết nối vào cảng như: đường Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Hữu Thọ, Mai Chí Thọ

Để có nguồn vốn hoàn thiện hạ tầng kết nối cảng biển, giảm bớt ùn tắc tai nạn trong điều kiện nguồn ngân sách hạn hẹp, Sở Giao thông vận tải TP đánh giá việc thu phí sử dụng công trình, kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu cảng biển phù hợp về mặt địa lý và cơ sở pháp lý.

Về nguyên tắc xây dựng mức phí, Sở Giao thông vận tải TP cho biết sẽ sử dụng phương pháp so sánh mức phí các địa phương có điều kiện tương tự TP như Hải Phòng, Quảng Ninh... để lựa chọn mức phí phù hợp.

Trong đó, ưu tiên xây dựng mức thu phí cho hàng xuất nhập khẩu do hiện nay tỉ trọng hàng tạm nhập tái xuất, hàng quá cảnh, hàng gửi kho ngoại quan trong tổng số hàng hóa thông qua cụm cảng biển chiếm tỉ lệ rất nhỏ.

Sau khi thu phí, dự kiến sẽ trích lại tối đa không quá 10% số thu để phục vụ công tác thu phí như Hải Phòng đang làm. Về tiến độ xây dựng đề án này, Sở Giao thông vận tải TP sẽ nghiên cứu và làm việc với các đơn vị liên quan để hoàn thiện trình đề án cho UBND TP vào tháng 8-2020.

Nguồn: Báo Tuổi trẻ (https://tuoitre.vn/tp-hcm-xay-dung-de-an-thu-phi-ha-tang-cang-bien-tuong-tu-hai-phong-20200610180746394.htm)

Tin nổi bật