“Cây gậy” duy nhất quản lý giá cước, phụ phí của hãng tàu nước ngoài áp dụng tại Việt Nam chỉ có Nghị định 146/2016 của Chính phủ.
 

làm gì để không bị hãng tàu ngoại “bắt chẹt” cước vận chuyển container?

Hiện đội tàu biển Việt Nam có 1.049 tàu vận tải nhưng số tàu container chỉ chiếm 3,7% với 38 chiếc

Thực trạng doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam khốn đốn trước cách áp giá cước vận chuyển container một cách vô tội vạ của hãng tàu nước ngoài, đòi hỏi cơ quan chức năng Việt Nam sớm có giải pháp, kịp thời ngăn chặn các hành vi trục lợi.

Thống kê thị phần, thanh tra việc tăng giá cước

Trao đổi với Báo Giao thông về định hướng kiểm tra, xử lý trước việc tăng đột biến cước vận chuyển container tuyến quốc tế từ Việt Nam, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương cho biết, sau khi tiếp nhận phản ánh của doanh nghiệp, Bộ Công thương có văn bản kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ kiểm tra khả năng các hãng tàu liên kết với nhau để nâng giá cước, găm giữ container rỗng nhằm thu lợi, qua đó đẩy giá thuê container lên cao.

 
 

Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Thương, Phó trưởng phòng Vận tải và Dịch vụ Hàng hải (Cục Hàng hải VN) cho biết, hiện tại, “cây gậy” duy nhất quản lý giá cước, phụ phí của hãng tàu nước ngoài áp dụng tại Việt Nam chỉ có Nghị định 146/2016 của Chính phủ quy định việc niêm yết giá, phụ thu ngoài giá dịch vụ vận chuyển hàng hóa container bằng đường biển, giá dịch vụ tại cảng biển.

Trên cơ sở đó, Cục Hàng hải đang phối hợp với các hiệp hội liên quan rà soát lại quá trình áp dụng giá cước, phụ thu của hãng tàu nước ngoài tại Việt Nam trong suốt thời gian qua.

Trường hợp nào không khai báo mức tăng giá cước với cơ quan có thẩm quyền theo quy định sẽ bị xử nghiêm theo Nghị định 142/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải.

“Cục Hàng hải cũng sẽ phối hợp làm rõ về tình trạng có hay không tình trạng hãng tàu nước ngoài “bắt tay” với nhau để găm container rỗng, đẩy giá cước lên cao gây thiệt hại cho chủ hàng Việt Nam”, đại diện Cục Hàng hải thông tin.

Liên quan đến vấn đề trên, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho biết, theo quy định của Luật Cạnh tranh, sự thống lĩnh thị trường xuất hiện khi một doanh nghiệp chiếm thị phần 30%; Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên; Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên; Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên; Năm doanh nghiệp trở lên có tổng thị phần từ 85% trở lên.

“Cơ quan chức năng có thể căn cứ để xác định xem các hãng tàu có tình trạng lạm dụng thị trường để trục lợi. Tuy nhiên, cần phải có sự thống kê cụ thể về tỷ lệ đảm nhận thị phần của các hãng tàu nước ngoài tại thị trường Việt Nam để kết luận chính xác họ có thuộc đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam hay không”, ông Long nói.

Tuy nhiên, tiết lộ với Báo Giao thông, một lãnh đạo Cục Hàng hải VN cho biết, vừa qua, Cục Hàng hải cũng đã tổ chức thống kê sơ bộ. Kết quả, trong 38 hãng tàu nước ngoài đang đảm nhận thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam, chưa có hãng tàu nào đảm nhận ở mức xếp vào loại thống lĩnh thị trường.

Theo ông Hồ Kim Lân, Tổng thư ký Hiệp hội Cảng biển VN, kinh nghiệm ở Mỹ, tất cả hãng tàu vào cảng biển phải công bố mọi thứ về giá. Các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp tư nhân đàm phán với hãng tàu.

Nếu thấy xuất hiện dấu hiệu hãng tàu sử dụng lợi thế ban hành giá, phí quá lớn thì kiện ra cơ quan quản lý cạnh tranh xử lý. Khi ấy, hãng tàu phải công bố lý do tại sao tăng. Nếu cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện vi phạm, hãng tàu sẽ bị xử phạt rất nặng.

“Ở Việt Nam, Chính phủ cần chỉ đạo giao cơ chế quản lý cạnh tranh của Bộ Công thương cho từng khu vực cảng biển do cơ quan quản lý nhà nước như cảng vụ hàng hải để nâng cao hiệu quả quản lý về việc áp dụng chính sách của hãng tàu tại khu vực”, ông Lân đề xuất.

Thực hiện “bước tiến dài” đối với đội tàu Việt

Phân tích sâu hơn, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long nhận định, nguyên nhân cốt yếu dấn đến thực trạng doanh nghiệp/chủ hàng Việt Nam phải sống trong cảnh bị “bắt chẹt” về giá cước là hệ quả từ sự phát triển yếu kém, chậm chạp, không thể đảm đương thị trường của đội tàu Việt Nam.

Theo thống kê, tính đến tháng 12/2020, đội tàu biển Việt Nam có 1.049 tàu vận tải, tổng trọng tải khoảng 9,3 triệu DWT, đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN và thứ 30 trên thế giới.
Tuy nhiên, trong bối cảnh vận tải hàng hóa đang theo xu hướng container hóa nhưng số tàu container của Việt Nam chỉ chiếm 3,7% với 38 chiếc trong cơ cấu đội tàu vận tải. Trên thế giới đã phát triển loại tàu container sức chở trên 20.000 Teus nhưng doanh nghiệp Việt mới chỉ đầu tư tàu có sức chở 1.800 Teus.


“Điều này đòi hỏi đội tàu Việt phải sớm được nâng cao năng lực để lấp đầy khoảng trống trong thị trường hàng hóa xuất nhập khẩu. Đó mới là giải pháp dài hơi. Khi phát triển được đội tàu Việt, hãng tàu nước ngoài hết thế thống lĩnh thì chủ hàng mới có nhiều sự lựa chọn và được bảo đảm quyền lợi”, ông Long nói.

Phó Cục trưởng Cục Hàng hải Hoàng Hồng Giang cũng thừa nhận, các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam chưa đủ năng lực cạnh tranh để vận tải hàng hóa đi các tuyến xa như châu Âu, châu Mỹ đang là sự hạn chế.

Vì thế mà doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam không có cơ hội lựa chọn hãng tàu trong nước để vận tải, buộc phải chấp nhận các điều kiện và chi phí do hãng tàu nước ngoài đưa ra.

Đồng quan điểm, theo ông Phùng Ngọc Sâm, Công Ty CP Tập Đoàn Hanfimex Việt Nam cho biết: “Hiện nay, thị trường vận tải biển tuyến xa hiện chỉ có các hãng tàu nước ngoài. Doanh nghiệp buộc phải lựa chọn hoặc đóng cửa, hoặc chấp nhận đưa hàng hóa đi bằng mọi giá”, ông Sâm nói.

Nhu cầu có một đội tàu Việt trong các tuyến vận tải biển xa là rất cấp thiết. Song, theo ông Đỗ Xuân Quỳnh, Hiệp hội Chủ tàu VN, hình thành được tuyến vận tải container không hề đơn giản. Doanh nghiệp phải đầu tư một đội tàu gồm ít nhất 3 chiếc luân phiên nhau ở cảng dỡ, cảng xuất và lưu động.

Việc đầu tư container cũng tương ứng 3 tàu với khoảng 9.000 container (đối với cỡ tàu 1.000 Teus). Cùng đó là công tác phát triển cơ sở hạ tầng (thuê kho, bãi ở nước ngoài), thuê phương tiện từ cảng nước ngoài đến nơi giao hàng cuối cùng.

“Ước tính, chi phí cho tất cả các hạng mục trên “ngốn” của doanh nghiệp đến nửa tỷ USD. Mức đầu tư này rất khó khả thi trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam vẫn đang gánh nợ nần”, ông Quỳnh phân tích.

Bàn về giải pháp giúp đội tàu biển Việt Nam “nối dài cánh tay” ra các thị trường Âu, Mỹ, ông Bùi Văn Trung, Tổng thư ký Hiệp hội Chủ tàu VN chia sẻ, gần một thập kỷ qua, cơ chế hỗ trợ về tài chính của Nhà nước đối với doanh nghiệp vận tải biển gần như không có.

Các công ty tư nhân khi tiến hành đầu tư mua tàu đã sử dụng để bổ sung cho đội tàu vẫn phải sử dụng nguồn vốn của các ngân hàng trong nước với lãi suất rất cao, từ 10 - 11%. Trong khi lãi vay tại một số nước như Nhật Bản chỉ từ 1 - 2%, Singapore tính 3%, Trung Quốc là 4,5%.

“Theo thống kê của ngành hàng hải thế giới nói chung, tỷ suất lãi/vốn của vận tải biển khoảng 3 - 4%. Như vậy, với lãi suất đến hơn 10%, chưa kể các chi phí khác thì nguồn tài chính dành cho phát triển đội tàu gần như không có”, ông Trung nói và kiến nghị Chính phủ cần xem xét, chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu gói vay với lãi suất ưu đãi đối với doanh nghiệp vận tải biển, tạo nguồn vốn vững mạnh cho doanh nghiệp xây dựng những lộ trình vận tải “dài hơi”.

 

Theo quy định tại Nghị định 142/2017 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải, hãng tàu sẽ bị phạt tiền từ 500.000 - 1.000.000 đồng với các hành vi: Không niêm yết giá vận chuyển, phụ thu, giá dịch vụ tại cảng biển trên trang thông tin điện tử hoặc tại trụ sở của doanh nghiệp; Niêm yết giá vận chuyển, phụ thu, giá dịch vụ tại cảng biển không rõ ràng.

Phạt tiền từ 1 - 3 triệu đồng đối với hành vi kê khai không đủ các nội dung của văn bản kê khai giá sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận kê khai giá đã có văn bản nhắc nhở, yêu cầu nộp lại văn bản kê khai giá.

Phạt tiền từ 3 - 5 triệu đồng đối với mỗi hành vi: Không thông báo bằng văn bản về mức giá điều chỉnh tăng hoặc giảm cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong các trường hợp phải thực hiện thông báo giá theo quy định của pháp luật về giá.

Với tinh thần quyết tâm và đồng lòng, với mục tiêu dẫn đầu ngành hàng hải của Việt Nam, ngày 09/01/2021, Hội nghị Người đại diện vốn của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam – CTCP (VIMC) đã được tổ chức với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo VIMC và gần 100 lãnh đạo của 34 doanh nghiệp thành viên.

ous

Đây có thể xem là một hội nghị “Diên Hồng” của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, khẳng định quyết tâm của tập thể lãnh đạo VIMC và lãnh đạo 34 doanh nghiệp thành viên nhằm hiện thực hóa Kế hoạch Phát triển VIMC trong giai đoạn đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

Sau các phiên thảo luận sôi nổi, với sự thống nhất cao vào tối muộn cùng ngày, lãnh đạo, người đại diện vốn của Tổng công ty tại các doanh nghiệp đã ký Tuyên bố chung về Chương trình hành động năm 2021 của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam – VIMC.

Các phiên thảo luận và Tuyên bố chung đã tập trung vào các giải pháp đẩy mạnh hoạt động đổi mới – sáng tạo, phát triển kinh doanh, phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ trong kỷ nguyên số. Các đồng chí lãnh đạo doanh nghiệp đã phát biểu, trình bày những ý kiến đóng góp hết sức tâm huyết và thẳng thắn tại Hội nghị.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty – Lê Anh Sơn nêu rõ “VIMC cần phải hành động mạnh mẽ và quyết liệt hơn để tạo động lực mới cho sự phát triển nhảy vọt và các doanh nghiệp phải phát huy mọi tiềm năng của mỗi thành viên, hợp lực và phối hợp với các doanh nghiệp khác để đưa VIMC vươn lên vị thế SỐ 1 của ngành hàng hải Việt Nam. Mọi hành động phải hướng tới những điều khách hàng cần, chứ không phải làm với những gì chúng ta có. Chú trọng việc phát triển nguồn nhân lực, cải tiến quy trình, rút ngắn tối đa các thủ tục trong quản trị doanh nghiệp, trước hết trong chính Công ty mẹ – Tổng công ty và đến các doanh nghiệp; phải tạo ra được dịch vụ ưu thế và khác biệt; lấy công nghệ làm nền tảng cho sự phát triển này; thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ của Tổng công ty khi bước vào giai đoạn phát triển mới”.

 

ại cuộc họp về việc giá cước vận tải đường biển tăng đột biến vừa diễn ra tại TP HCM, nhiều chủ hàng trong ngành thủy sản, nhựa và gỗ cho biết hơn 3 tháng nay giá thuê container rỗng liên tục tăng, từ mức ban đầu chưa tới 1.000 USD/container 40 feet thì nay đã đội giá lên tới 8.000 USD, thậm chí là 10.000 USD/container 40 feet đi thị trường Anh. Chủ hàng cho rằng đây là mức tăng bất hợp lý, hãng tàu phải minh bạch thông tin về giá và mức tăng phải phù hợp.

Báo cáo Thủ tướng việc giá cước vận tải hàng hải tăng phi mã - Ảnh 1.

Bộ Công Thương & Bộ Giao thông vận tải sẽ báo cáo việc giá cước vận tải tăng phi mã lên Thủ tướng, nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa chủ hàng và hãng tàu.

à Huỳnh Thị Mỹ, Tổng Thư ký Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) cho biết việc tăng cước vận tải đường biển lên gấp 3-4 lần trong thời gian vừa qua ảnh hưởng lớn, làm giảm doanh số xuất khẩu của ngành.

Bà Mỹ cũng cho biết đã có 1 doanh nghiệp của Ấn Độ trong khu công nghiệp Việt Nam - Singapore chuyên sản xuất sợi xuất khẩu tuyên bố đóng cửa nhà máy, dừng tất cả đơn hàng trong tháng 12/2020, do giá cước vận tải biển quá cao khiến giá thành sản xuất tại Việt Nam không còn cạnh tranh. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhựa khác bán hàng gần như không lợi nhuận nhưng lượng hàng xuất đi vẫn rất chậm, số lượng hàng tồn kho đã tăng lên 50% so với cùng kỳ năm ngoái.B

“Hiệp hội Nhựa Việt Nam kiến nghị Cục Hàng hải xem xét lại cách tính, thanh tra, kiểm tra giá cước vận chuyển và bổ sung chế tài rõ ràng về việc niêm yết giá cước, tránh tình trạng giá cước tăng 400% như hiện nay”, bà Mỹ nói.

Về phía mình, hãng tàu cho rằng do ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc giải phóng hàng, quay vòng container rỗng bị kéo dài. Chưa kể, lượng hàng xuất đi EU, Mỹ tăng đột biến dẫn tới tình trạng thiếu container rỗng. Hãng tàu không cắt giảm chuyến thậm chí còn tăng chuyến tàu vận chuyển từ Việt Nam đi các nước nhưng do lượng container thiếu hụt trầm trọng, giá cước vận tải mới tăng. Tình trạng này dự báo có thể kéo dài đến hết quý I hoặc có thể lân sang cả quý II nếu dịch Covid-19 vẫn còn phức tạp.

Nhiều hãng tài kiến nghị cơ quan chức năng xem xét giải quyết tình trạng hàng ngàn container vô chủ ở cảng để lấy nguồn container rỗng cho hoạt động xuất khẩu.

Cuối tháng 12, ngay khi nhận được thông tin phản ánh của chủ hàng về việc giá cước vận tải hàng hải tăng đột biến, Cục Hàng hải Việt Nam đã đã yêu cầu hãng tàu có biện pháp tăng lượng dự trữ, lưu chuyển container rỗng (loại 40 feet) ở thị trường nội địa, giảm giá dịch vụ, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa bằng container trong bối cảnh cầu tăng cao như hiện nay.

Đồng thời, hãng tàu còn phải thông tin về việc niêm yết giá, phụ giá dịch vụ vận chuyển hàng hóa container bằng đường biển và gửi về Cục Hàng hải. “Tuy nhiên, sau hơn 2 tuần, các hãng tàu vẫn chưa có văn bản báo cáo gửi về Cục Hàng hải Việt Nam”, ông Hoàng Hồng Giang - Phó Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam cho biết.

Vị này cũng cho rằng việc tăng giá cước thuê container rỗng đóng hàng tăng là nhu cầu của thị trường nhưng hãng tài phải thực hiện nghiêm việc minh bạch giá.

Trao đổi với Người Đồng Hành đầu tuần này, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho biết giá cước tàu biển và giá thuê container rỗng tăng cao ảnh hưởng mạnh đến hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là xuất khẩu. Quan hệ giữa chủ tàu và chủ hàng là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, các hãng tàu cần minh bạch giá cước, chia sẻ chi phí với chủ hàng để tránh tăng giá quá cao. Theo đó, doanh nghiệp được khuyến nghị có thể tạm giãn hoặc chuyển sang những phương thức khác như hàng không, chi phí sẽ rẻ hơn so với tàu thủy nếu so sánh giá cước ở thời điểm này. Nhưng về lâu dài, doanh nghiệp có thể tính đến việc vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường sắt với cước ổn định và thời gian giao hàng nhanh hơn.

Bộ Công Thương & Bộ Giao thông vận tải sẽ báo cáo vấn đề này lên Thủ tướng, nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa chủ hàng và hãng tàu.

Theo Ngọc Hà

NDH

Tại hội thảo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, nhiều đại biểu đề cao tính dự báo…
 

quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển việt nam sẽ có những thay đổi gì?

Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Nhật phát biểu tại hội thảo

Ngày 14/1, tại TP.HCM, Bộ GTVT tổ chức hội thảo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn 2050.

Hệ thống cảng biển sẽ rút gọn thành 5 nhóm

Theo Cục Hàng hải Việt Nam, hiện nay, hệ thống cảng biển nước ta được chia làm 6 nhóm. Để phù hợp với điều kiện phân vùng kinh tế xã hội hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050, các nhóm cảng biển được điều chỉnh lại thành 5 nhóm.

Đề án quy hoạch mới cũng đã phân loại cảng biển theo quy mô chức năng nhiệm vụ, gồm có các cảng biển loại đặc biệt, I, II, III.

 
 

Ngoài ra, đề án cũng phân loại các bến cảng theo công năng bốc dỡ chủng loại hàng hóa, phạm vi hoạt động kinh doanh. Mục tiêu là để phát triển hệ thống cảng biển theo một quy hoạch tổng thể và thống nhất trên quy mô cả nước, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng…

quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển việt nam sẽ có những thay đổi gì?

Toàn cảnh hội thảo

Tham luận tại hội thảo, ông Ngô Nhật Hưng, chuyên gia Cảng - Đường thủy và công trình biển (Đại hộc Quốc gia TP.HCM) cho biết, đến nay, hệ thống cảng biển nước ta đã được xây dựng với tổng chiều dài hơn 96km bến cảng, tổng công suất hàng hóa qua cảng đạt gần 690 triệu tấn. Các cảng biển hiện đại đã dần hình thành tại Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu.

Ông Hưng nhận thấy, đề án có sự nghiên cứu, phân tích, đánh giá và kế thừa các thành tựu đã đạt được trong quy hoạch thời kỳ trước để xây dựng quy hoạch thời kỳ mới.

Tuy nhiên theo ông, cần lưu ý thêm nhiều vấn đề như công tác dự báo vì đó là cơ sở dữ liệu quan trọng nhất của công tác quy hoạch.

"Báo cáo cần chỉ rõ các nội dung nào cần tiếp tục nghiên cứu trong các quy hoạch chi tiết sau này. Quy hoạch tổng thể cần được nghiên cứu theo hướng mở, có dự báo và tính đến xu thế phát triển của KHCN để tăng năng suất xếp dỡ, tăng công suất bến. Xu thế tăng kích cỡ đội tàu thế nào trên các tuyến hàng hải quốc tế? Khu vực đồng bằng Sông Cửu Long đến năm 2030, ngoài việc sớm hoàn chỉnh dự án luồng cho tàu lớn vào sông Hậu cần có cảng phục vụ xuất nhập khẩu trực tiếp của vùng...", ông Hưng đề xuất.

quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển việt nam sẽ có những thay đổi gì?

Ông Ngô Nhật Hưng, chuyên gia Cảng - Đường thủy và công trình biển tham luận

Trong khi đó, tham luận của đại diện Tân cảng Sài Gòn đề cập đến việc đầu tư phát triển hệ thống cảng container đi đôi với dự báo tốt hơn về chủng loại, kích cỡ tàu. Từ đó có chính sách phù hợp về đầu tư xây dựng hệ thống cảng, thúc đẩy phát triển kinh tế biển.

Trong phần thảo luận, nhiều ý kiến tập trung vào vấn đề dự báo sản lượng hàng qua cảng, dự báo việc phát triển đội tàu, đặc biệt là những con tàu có kích cỡ siêu lớn đến các cảng làm hàng.

Đặc biệt, nhiều đại biểu rất quan tâm đến những bất cập từ việc thiếu sự đồng bộ hóa kết nối giao thông từ các cảng, ảnh hưởng đến đội giá chi phí logistics; Công tác nạo vét luồng bị chững lại do vướng mắc thủ tục hành chính về môi trường, không có nơi đổ bùn nạo vét.

quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển việt nam sẽ có những thay đổi gì?

Ông Võ Quốc Thắng, cảng Đồng Tâm Long An nêu ý kiến trong phần thảo luận

Phải đẩy cảng ra ngoài biển chứ không làm cảng vào bên trong

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Nhật ghi nhận và biểu dương các ý kiến đóng góp của các đại biểu.

Thứ trưởng đề nghị các doanh nghiệp cảng, các địa phương tiếp tục nghiên cứu, có văn bản bổ sung góp ý cho đề án để triển khai quy hoạch cho đúng. Tỉnh nào có cảng biển thì kinh tế phát triển nhanh, các quốc gia phát triển cũng nhờ có cảng nước sâu. Năm 2020, dù ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, lũ lụt, nhưng lượng hàng hóa qua cảng Việt Nam vẫn tăng trưởng 10% (đạt gần 680 triệu tấn hàng).

Thứ trưởng lưu ý và đề nghị lãnh đạo các doanh nghiệp, địa phương cần đặc biệt quan tâm đến phát cảng biển để hệ thống cảng biển có quy hoạch tốt, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của đất nước phát triển.

Thứ trưởng cho biết, việc nạo vét luồng hiện nay có những bất cập từ những thủ tục hành chính, song cũng có những đại phương phối hợp tốt với Cục Hàng hải về công tác nạo vét, duy tu tuyến luồng để tàu bè ra vào thuận tiện.

Theo Thứ trưởng, xây dựng cảng biển tới đây phải đẩy cảng ra ngoài biển chứ không làm cảng vào bên trong, gây sạt lở, tốn chi phí nạo vét.

"Buổi hội thảo bàn về chủ đề quy hoạch tổng thể nên các địa phương nghiên cứu cảng vị trí cảng đó có kết nối với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, các khu công nghiệp, khu kinh tế có nằm gần đó không. Còn cụ thể các nhóm cảng thì đã có chi tiết, còn có cả quy hoạch chi tiết các vùng đất, vùng nước trước và sau cảng nữa. Nếu không có quy hoạch tổng thể, sau này điều chỉnh sẽ rất khó khăn…", Thứ trưởng nói.

Chiều 12/01, tại TP. Hồ Chí Minh, Cục Hàng hải Việt Nam (Bộ GTVT) và Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) tiếp tục tổ chức cuộc họp về giải pháp đối với việc tăng giá, phụ thu ngoài giá dịch vụ vận chuyển hàng hóa container bằng đường biển trong thời gian vừa qua. Phó Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam Hoàng Hồng Giang, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải đồng chủ trì cuộc họp.
Tham dự họp, còn có Vụ Vận tải (Bộ GTVT), đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính); lãnh đạo Chi cục Hàng hải Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh và các Cảng vụ Hàng hải: Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đồng Nai; đại diện các Hiệp hội, doanh nghiệp và các hãng tàu vận tải container nước ngoài.

 

Phó Cục trưởng Hoàng Hồng Giang và Phó Cục trưởng Trần Thanh Hải đồng chủ trì cuộc họp

Thời gian qua, theo phản ánh của các Hiệp hội, doanh nghiệp, tình trạng thiếu hụt container rỗng và chi phí vận tải biển bằng container, phụ phí ngoài giá dịch vụ vận chuyển hàng hóa container tăng cao đã tác động mạnh đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. Tại cuộc họp, đại diện đến từ các hãng tàu, Hiệp hội đã chia sẻ về những khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, tác động đến các hãng vận tải biển.

Trong đó, nhiều chủ hàng ngành thủy sản, nhựa, gỗ cho biết, giá thuê container rỗng liên tục tăng, từ gần 1.000 USD/container 40 feet lên đến 8.000 USD, thậm chí là 10.000 USD/container 40 feet đi thị trường Anh trong 3 tháng gần đây. Theo Tổng Thư ký Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) Huỳnh Thị Mỹ, việc tăng cước vận tải biển lên gấp 3-4 lần thời gian vừa qua gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các doanh nghiệp ngành nhựa, làm giảm doanh số xuất khẩu.

Về vấn đề tăng giá cước vận tải container, trao đổi tại cuộc họp, đại diện các hãng tàu lý giải, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 khiến việc giải phóng hàng và quay vòng container rỗng bị kéo dài. Đồng thời, lượng hàng xuất đi châu Âu, Mỹ tăng đột biến dẫn tới thiếu container rỗng đóng hàng. Một số hãng tàu cũng cho biết, họ không cắt giảm chuyến đi từ Việt Nam, thậm chí còn tăng chuyến, nhưng do lượng container thiếu hụt trầm trọng nên dẫn tới tình trạng hiện nay. Nhằm ứng phó với tình trạng trên các hãng tàu đề xuất: các cơ quan chức năng xem xét giải quyết tình trạng hàng ngàn container vô chủ ở cảng để “lấy nguồn” container rỗng cho xuất khẩu.

Theo Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) Trần Thanh Hải khẳng định, giá cước tàu biển và giá thuê container rỗng tăng cao ảnh hưởng mạnh đến hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là xuất khẩu. Trong khi đó, quan hệ giữa chủ tàu và chủ hàng là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, do đó các hãng tàu cần minh bạch giá cước, chia sẻ chi phí với chủ hàng để tránh tăng giá quá cao. Đồng thời, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu cũng đề nghị các doanh nghiệp xuất khẩu chủ động phương án ứng phó với tình hình thiếu container kéo dài trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp tại nhiều khu vực trên thế giới.

Phát biểu tại cuộc họp, ông Hoàng Hồng Giang - Phó Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam thông tin, ngay sau khi nhận phản ánh của các doanh nghiệp xuất khẩu về tình trạng tăng giá bất hợp lý của các hãng tàu, cơ quan quản lý Nhà nước về hàng hải đã có văn bản đề nghị hãng tàu thực hiện nghiêm túc việc niêm yết giá. Trước đó, Cục Hàng hải Việt Nam (Bộ GTVT) và Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã phối hợp tổ chức buổi làm việc với các hãng tàu, chủ hàng và Hiệp hội tại khu vực phía Bắc. Song, đến thời điểm này, nhiều hãng tàu vẫn chưa có văn bản báo cáo gửi về Cục Hàng hải Việt Nam.

“Việc giá cước thuê container rỗng đóng hàng tăng là cung cầu của thị trường, tuy nhiên các hãng tàu cần thực hiện nghiêm yêu cầu của Cục Hàng hải Việt Nam trong việc minh bạch giá. Liên quan đến các đề xuất phương án ứng phó đại biểu đề xuất, kiến nghị tại cuộc họp, Cục Hàng hải Việt Nam sẽ tổng hợp, nghiên cứu và báo cáo cấp có thẩm quyền”, Phó Cục trưởng Hoàng Hồng Giang cho biết.

Ngọc Hân

Cơ chế “khoán gọn” trong công tác duy tu luồng hàng hải vẫn chưa thể triển khai bởi khó khăn trong tìm vị trí đổ vật liệu nạo vét lâu dài.
 

vì sao chưa thể “khoán gọn” nạo vét luồng hàng hải?

Năm 2021, công tác duy tu luồng hàng hải vẫn chưa thể áp dụng cơ chế khoán gọn do thiếu vị trí đổ vật liệu nạo vét ổn định, lâu dài. (Ảnh minh họa)

“Khát” nơi đổ vật liệu ổn định

Ông Dương Ngọc Đức, Phó TGĐ Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải (BĐATHH) miền Bắc cho biết, theo Nghị định 159/2018 và Thông tư 35/2019 của Bộ GTVT, từ năm 2020, công tác nạo vét duy tu luồng hàng hải với hình thức khoán duy trì chuẩn tắc trong khoảng thời gian xác định (khoán gọn) sẽ được áp dụng.

 
 

Tuy nhiên, trong 26 tuyến luồng theo Kế hoạch bảo trì kết cấu hạ tầng hàng hải năm 2021 được Bộ GTVT phê duyệt mới đây, chưa có tuyến luồng nào được triển khai nạo vét theo hình thức này.

Theo ông Đức, để thực hiện "khoán gọn" các Tổng công ty BĐATHH sẽ phải tìm kiếm vị trí có đủ khả năng tiếp nhận vật liệu nạo vét lâu dài, tổ chức lựa chọn đơn vị tư vấn để tính toán, dự báo khối lượng sa bồi hàng năm trên cơ sở các số liệu đo đạc trong vòng tối thiểu 3 năm gần nhất làm cơ sở để xác định khối lượng khoán gọn cho nhà thầu.

Tại khu vực phía Bắc, luồng hàng hải Hải Phòng đã đủ điều kiện về cơ sở số liệu đo đạc. Song, cơ chế “khoán gọn” vẫn chưa thể triển khai do chưa tìm được vị trí nào đủ khả năng tiếp nhận chất nạo vét trong nhiều năm và có thể hoàn thành được thủ tục pháp lý kịp thi công nạo vét duy tu tuyến luồng ngay trong năm 2021.

Trong khi đó, việc nạo vét duy tu đối với tuyến luồng huyết mạch này bắt buộc phải thực hiện trong năm 2021 nhằm duy trì chuẩn tắc thiết kế.

Tại khu vực miền Nam, lãnh đạo Tổng công ty BĐATHH miền Nam cho biết, theo tiêu chí đặt ra, các tuyến luồng hàng hải muốn áp dụng cơ chế khoán gọn phải đáp ứng được hai tiêu chí: Có lượng sa bồi ổn định và có vị trí đổ vật liệu nạo vét lâu dài (ít nhất từ 3 năm) để hoàn thiện thủ tục đánh giá tác động môi trường trong suốt khoảng thời gian “khoán gọn”.

“Trên cơ sở đó, khu vực phía Nam hiện có hai tuyến luồng là: Vũng Tàu - Thị Vải và Quy Nhơn đã có lượng sa bồi ổn định nhưng chưa thể triển khai “khoán gọn” bởi chưa tìm được vị trí đổ thải lâu dài. Trong đó, luồng Vũng Tàu - Thị Vải vẫn trong cảnh “ăn đong” vị trí đổ thải theo từng năm (năm 2018: khu vực Mỏ Nhát, năm 2019: khu vực KCN Thanh Bình - Phú Mỹ...). Đối với luồng Quy Nhơn, TCT BĐATHH miền Nam đang xin đổ ra ngoài biển nhưng tỉnh chưa chấp nhận”, lãnh đạo này thông tin.

Doanh nghiệp thấp thỏm

Trao đổi với Báo Giao thông, ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Khai thác cảng Gemadept khu vực phía Bắc cho biết, cuối tháng 12/2020, luồng hàng hải Hải Phòng đã được đưa vào khai thác sau thời gian duy tu với chuẩn tắc luồng -7m.

Những con tàu khoảng 40.000 DWT có thể hành hải làm hàng thuận lợi. Tuy nhiên, ông Tuấn vẫn không khỏi lo lắng khi 3 năm gần đây, chỉ sau khoảng 2 - 3 tháng, tình trạng bồi lắng lại xuất hiện trên tuyến luồng Hải Phòng với mức bồi khoảng 10 - 20cm.

“Theo tính toán, nếu mức cạn của luồng là 20cm, các tàu sẽ phải cắt đi khoảng 100 TEUs/chuyến. Bình quân mỗi TEU mất khoảng 50 - 60USD, tương đương mỗi chuyến tàu, hãng tàu sẽ chịu tổn thất từ 500 - 600USD. Với giá bốc xếp hiện tại là hơn 30 USD/TEUs, DN cảng cũng mất đi khoảng 3.000 USD/chuyến tàu, chưa kể giá dịch vụ bên trong (đóng, rút container, nâng hạ hàng hóa...)”, ông Tuấn nói.

Ông Phan Tuấn Linh, TGĐ Công ty CP Cảng Quy Nhơn cho biết, khoảng tháng 7/2020, luồng hàng hải Quy Nhơn đã được hoàn thành công tác nạo vét và đưa vào khai thác.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm khai thác, mỗi năm, luồng hàng hải Quy Nhơn sẽ bị bồi lắng trung bình từ 0,3 - 0,5m. Vào thời điểm luồng cạn nhất (khoảng 9,8m), tàu trọng tải 50.000 DWT chỉ xếp được khoảng 35.000 tấn hàng. Số hàng bị sụt giảm khiến cảng mất cả chục tỷ mỗi năm.

“Khi luồng có dấu hiệu bồi lắng, việc tiếp nhận tàu tải trọng lớn vẫn phải phụ thuộc vào thủy triều. Hiện tại, thủy triều tại luồng hàng hải Quy Nhơn theo chế độ bán nhật triều (2 lần triều lên và 2 lần triều xuống). Mỗi ngày chỉ có 8/24 tiếng tàu trên 50.000 DWT có thể ra, vào cảng làm hàng. Việc đón tàu lớn gặp nhiều bất lợi. Do vậy, nếu cơ chế khoán gọn được triển khai đối với luồng Quy Nhơn, cảng có thể chủ động đón tàu lớn ở bất cứ thời điểm nào trong ngày. Năng suất khai thác cảng khi ấy sẽ được nâng lên ít nhất từ 20 - 30% so với thời điểm hiện tại”, ông Linh chia sẻ.

Đại diện Cảng quốc tế Cái Mép (CMIT) cho biết, trước thời điểm 26/12/2020 (thời điểm luồng Vũng Tàu - Thị Vải được hoàn thành nạo vét), công tác đón tàu của CMIT gặp nhiều khó khăn. Hiện, tàu container vào Cái Mép - Thị Vải thường có trọng tải từ 110.000 - hơn 200.000 DWT.

Thông thường, khi đạt độ sâu đúng thiết kế (-14m), tàu vẫn phải lợi dụng thủy triều mới có thể ra, vào cảng làm hàng thuận lợi. Đồng nghĩa, khi luồng cạn thêm, cơ hội khai thác tàu lớn của cảng sẽ bị thu hẹp dần.

“Tại cảng CMIT đã xảy ra nhiều trường hợp tàu làm hàng xong không ra ngay được mà phải neo ở cảng gần 2,5 tiếng để chờ con nước mới có thể hành hải ra ngoài. Việc chậm trễ này gây hệ lụy dây chuyền, một tàu rời cảng chậm đồng nghĩa hàng loạt tàu sau sẽ vào làm hàng muộn. Với hãng tàu, khi mất thời gian chờ ở cảng Cái Mép, họ sẽ đối mặt với nguy cơ chậm lịch ở các cảng sau. Do vậy, để đảm bảo hiệu quả khai thác cảng nước sâu, DN rất mong chờ cơ chế “khoán gọn” sớm được triển khai (về lâu dài là việc nâng cấp luồng xuống -15,5m) để không mất cơ hội đón được các tuyến hành trình với cỡ tàu lớn hơn”, đại diện CMIT nói.

 

Quy trình “khoán gọn” được thực hiện như thế nào?

Để thực hiện "khoán gọn", các Tổng công ty BĐATHH sẽ tìm kiếm vị trí đổ vật liệu nạo vét đảm bảo khả năng tiếp nhận cho toàn bộ thời gian khoán gọn, hoàn thiện các thủ tục về môi trường; thuê đơn vị tư vấn có đủ năng lực lập hồ sơ thiết kế dự toán phục vụ khoán gọn, lựa chọn nhà thầu, tổ chức thi công.

Về thủ tục, công tác nạo vét sẽ được tiến hành khi hoàn tất các thủ tục chuẩn bị một lần, nhà thầu sẽ thi công liên tục cho đến hết thời gian hợp đồng. Trong thời gian 2 - 3 năm tùy vào thời gian tổ chức “khoán gọn”, các năm tiếp theo sẽ không phải thực hiện lại các thủ tục phê duyệt thiết kế dự toán, đánh giá tác động môi trường, lựa chọn nhà thầu, đo đạc bàn giao mặt bằng...

Bộ GTVT lên phương án duy tu, nạo vét, sửa chữa công trình luồng hàng hải với kinh phí dự kiến hơn 1.700 tỷ đồng.
 

hơn 1.700 tỷ đồng bảo trì kết cấu hạ tầng hàng hải

Mặc dù công tác duy tu luồng hàng hải chịu nhiều tác động bởi dịch Covid-19, song, Bộ GTVT, Cục Hàng hải VN vẫn đang chỉ đạo các công ty bảo đảm an toàn hàng hải nỗ lực hoàn thiện các thủ tục, sớm thi công, khơi thông các tuyến luồng - Ảnh minh họa

Theo kế hoạch bảo trì kết cấu hạ tầng hàng hải năm 2021 được Bộ GTVT phê duyệt, giai đoạn 2021 - 2022 sẽ có 26 tuyến luồng hàng hải tiếp tục được duy tu, nạo vét nhằm tạo thuận lợi cho tàu, thuyền hoạt động, nâng cao công suất khai thác của cảng biển Việt Nam.

 
 

Cụ thể, năm 2021, các tuyến luồng được duy tu, nạo vét gồm: luồng Hải Phòng (trừ đoạn Lạch Huyện), Phà Rừng, Hải Thịnh, Sa Kỳ, Đà Nẵng, Vũng Tàu - Thị Vải (bao gồm luồng hàng hải sông Dinh), Rạch Giá.

Giai đoạn 2021 - 2022 sẽ thi công nạo vét các tuyến luồng: Hải Phòng (đoạn Lạch Huyện), Nghi Sơn, Cửa Lò, Sài Gòn, Vũng Tàu, Soài Rạp (đoạn Hiệp Phước), luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu sẽ được thi công chuyển tiếp

Ngoài ra, trong năm 2021, một số công trình chuyển tiếp từ năm 2020 sẽ tiếp tục được thi công, gồm: luồng Lạch Huyện, Nghi Sơn, Cửa Lò, Vũng Áng, Cửa Hội - Bến Thủy, Phà Rừng, Diêm Điền, Thuận An, Sài Gòn - Vũng Tàu, luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu.

Ngoài việc duy tu, nạo vét giúp luồng hàng hải đạt chuẩn tắc thiết kế, Bộ GTVT cũng lên kế hoạch sửa chữa đê, kè bảo vệ luồng hàng hải tại 4 công trình: kè luồng hàng hải Hải Thịnh, kè sông Cấm và Bạch Đằng luồng hàng hải Hải Phòng, kè luồng hàng hải kênh Hà Nam, kè kênh Tắt luồng cho tàu biển trọng tải lớn vài sông Hậu.

Tổng kinh phí thực hiện bảo trì kết cấu luồng hàng hải năm 2021 sau khi được Bộ GTVT rà soát dự kiến khoảng hơn 1.700 tỷ đồng. Trong đó, công trình nạo vét duy tu luồng năm 2020 - 2021 hơn 1.300 tỷ đồng, công trình thực hiện năm 2021 - 2022 là hơn 375 tỷ đồng, sửa chữa, bảo vệ công trình hàng hải là hơn 41 tỷ đồng.

Trao đổi với Báo Giao thông, ông Dương Ngọc Đức, Phó TGĐ Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc cho biết, đối với tuyến luồng Lạch Huyện (được chuyển tiếp từ năm 2020), đơn vị này đang thúc đẩy các thủ tục để sớm khởi công, phấn đấu hoàn thành vào quý 2/2021.

“Thời điểm hiện tại, thủ tục chuẩn bị đầu tư cho 4 công trình luồng: Cửa Lò, Cửa Hội, Nghi Sơn, Vũng Áng cũng đã được hoàn thành, Tổng công ty đang thực hiện công đoạn thiết kế dự toán, tiến tới triển khai đấu thầu, thi công dự án”, ông Đức thông tin.

Trong khi đó, tại khu vực miền Nam, lãnh đạo Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Nam cho biết đang nỗ lực tìm vị trí đổ chất nạo vét và thực hiện các thủ tục liên quan để sớm khởi công các dự án duy tu luồng theo kế hoạch.

“Riêng luồng Vũng Tàu - Thị Vải, khả năng cao sẽ tiếp tục duy trì vị trí đổ vật liệu nạo vét như năm 2020 là KCN Thanh Bình - Phú Mỹ”, đại diện này thông tin.

Cổ phiếu Tesla tăng gần 8% trong phiên giao dịch 7/1 giúp tài sản của Elon Musk chạm 194,8 tỷ USD.

Theo Bloomberg Billionaires Index, CEO Tesla Elon Musk hiện có tài sản cao hơn 9,5 tỷ USD so với ông chủ Amazon Jeff Bezos. Nhờ đó, Musk chiếm vị trí giàu nhất thế giới mà Bezos đã nắm giữ kể từ tháng 10/2017. Musk - với vai trò CEO SpaceX - hiện cũng là đối thủ của Bezos - ông chủ Blue Origin trong cuộc đua hàng không vũ trụ.

Sự kiện này đã đánh dấu 12 tháng rực rỡ của Musk. Chỉ trong một năm, tài sản của ông tăng thêm hơn 165 tỷ USD. Góp phần lớn là đà tăng phi mã của cổ phiếu Tesla, với 743% năm ngoái, nhờ lợi nhuận ổn định, kỳ vọng của nhà đầu tư và việc mã này được đưa vào chỉ số S&P 500.

CEO Elon Musk trong một sự kiện của Tesla. Ảnh: Reuters
 

CEO Elon Musk trong một sự kiện của Tesla. Ảnh: Reuters

Dù vậy, nếu không có vụ ly hôn đắt đỏ năm 2019, Bezos sẽ vẫn dẫn trước Musk. Bezos đã phải chia một phần tư cổ phần Amazon ông nắm giữ cho vợ cũ MacKenzie Scott.

Musk hiện sở hữu 20% cổ phần Tesla. Ngoài ra, ông còn nắm trong tay số quyền chọn cổ phiếu trị giá 42 tỷ USD. Số quyền chọn này được trao cho Musk trong hai đợt, năm 2012 và 2018.

Tesla hiện là hãng xe giá trị nhất thế giới, dù chỉ xuất xưởng nửa triệu xe năm ngoái, kém xa các đại gia như Ford Motor hay General Motors. Công ty này dự kiến tiếp tục hưởng lợi khi đảng Dân chủ nắm Thượng viện và ủng hộ việc phổ biến xe điện.

Ngân hàng Thế giới (WB) vừa hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu trong thập kỷ này, do đại dịch làm gián đoạn thương mại, đầu tư và giáo dục.

Trong "Báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu" công bố hôm 5/1, WB đã hạ dự báo tăng trưởng của thế giới giai đoạn 2020 - 2029 xuống 1,9% một năm. Trước đại dịch, họ vốn đã dự báo tăng trưởng giai đoạn này sẽ chậm lại, xuống mức trung bình hàng năm là 2,1%, từ 2,5% thập kỷ trước. Nguyên nhân là dân số già và tốc độ tăng năng suất chậm lại.

World Bank cho rằng sự suy giảm dài hạn của thương mại và đầu tư gây ra bởi đại dịch, cùng sự gián đoạn trong giáo dục đã cản trở việc tăng năng suất lao động. "Trừ khi có một cuộc cải cách đáng kể, chúng tôi nghĩ rằng nền kinh tế toàn cầu sẽ trải qua một thập kỷ với kết quả tăng trưởng đáng thất vọng", Ayhan Kose, Quyền phó chủ tịch World Bank về tăng trưởng công bằng và các tổ chức tài chính, nói.

Cảng Felixstowe (Anh). Ảnh: Bloomberg.
 

Cảng Felixstowe (Anh). Ảnh: Bloomberg.

Với nhóm nước mới nổi và đang phát triển, World Bank cho rằng tăng trưởng trung bình sẽ đạt 3,3% một năm giai đoạn 2020 - 2029, giảm so với mức dự báo 4,0% trước đại dịch và 5,0% trong thập kỷ trước.

"Thế giới không thể chờ đợi tất cả mọi người đều được tiêm vaccine để đưa nền kinh tế toàn cầu chống lại một thập kỷ mất mát. Điều đó có nghĩa là các nhà hoạch định chính sách cần phải hành động và tích cực hành động để đón đầu đại dịch", ông Kose nói.

Ông kêu gọi đầu tư để cải thiện công nghệ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và môi trường, cũng như cải thiện quản trị và minh bạch nợ, đặc biệt là ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển.

World Bank cho rằng kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng 4% năm nay, sau khi giảm 4,3% vào năm 2020. Dự báo này thấp hơn 0,2 phần trăm so với tháng 6 năm ngoái, do Covid-19 tái bùng phát và các nước áp hạn chế mới đối với hoạt động kinh tế.

Việc hạ dự báo cho năm 2021 chủ yếu phản ánh tốc độ tăng trưởng chậm hơn ở các nền kinh tế tiên tiến. GDP Mỹ năm nay có thể chỉ tăng 3,5%, giảm từ 4% trong dự báo trước đó. Khu vực đồng euro dự kiến sẽ tăng 3,6%, giảm so với 4,5%.

Các nền kinh tế mới nổi có thể tăng trưởng 5% năm nay, cao hơn dự báo 4,6% trước đó, nhờ động lực từ Trung Quốc. GDP nền kinh tế lớn nhì thế giới được kỳ vọng tăng 7,9% năm nay, sau khi tăng 2% vào năm ngoái. Trung Quốc là nền kinh tế lớn duy nhất tránh được suy giảm năm 2020.

Việc kinh tế toàn cầu giảm 4,3% năm 2020 được đánh giá là ít nghiêm trọng hơn một chút so với dự báo, chủ yếu do suy giảm không quá mạnh ở các nước tiên tiến nhờ các biện pháp kích thích, cùng sự phục hồi của Trung Quốc.

Tuy nhiên, trong khi các nền kinh tế tiên tiến có thể tận dụng lãi suất thấp để huy động vốn cho các biện pháp kích thích, rủi ro nợ lại gia tăng ở các nước mới nổi và đang phát triển. Nhiều quốc gia đã vật lộn với gánh nặng nợ nần trước đại dịch.

Phiên An (theo WSJ)

Tin nổi bật