Vinaora Nivo Slider 3.xVinaora Nivo Slider 3.xVinaora Nivo Slider 3.x

Từ con sóng ngầm đột ngột lóe sáng năm 2020, chuỗi cung ứng lạnh đứng trước cơ hội khuấy động bất động sản hậu cần năm 2021.

JLL vừa công bố báo cáo tiềm năng của thị trường kho lạnh với nhiều dự báo lạc quan và cơ hội tăng trưởng nóng trong vòng 12 tháng tới. Từ năm 2019 trở về trước, ngành kho vận lạnh là khái niệm ít được nhắc đến tại thị trường Việt Nam vì chỉ là sân chơi của nhà đầu tư trong nước, chủ yếu phục vụ ngành thủy hải sản.

Thế nhưng Covid-19 xuất hiện đã thay đổi toàn bộ cục diện. Tình hình dịch bệnh bất ổn thúc đẩy xu hướng đi chợ online để tránh tiếp xúc đang diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ. Điều này dẫn đến nhu cầu kho trữ lạnh cho thực phẩm và các mặt hàng nhu yếu phẩm khác cũng tăng đột biến. Năm 2020 kho lạnh là một trong những phân khúc bất động sản công nghiệp hái ra tiền mùa dịch và thu hút sự quan tâm lớn của giới đầu tư không chỉ tại Việt Nam, châu Á Thái Bình Dương mà còn trên toàn cầu.

Theo Prnewswire1, thị trường chuỗi kho lạnh toàn cầu được định giá 4,7 tỷ USD vào năm 2019 và dự kiến sẽ đạt mức 8,2 tỷ USD vào năm 2025, tăng trưởng với tốc độ trung bình năm là 12,5% trong giai đoạn 2020-2025.

Các nhà bán lẻ lẫn sản xuất và giới đầu tư đều ráo riết săn lùng nhiều kho lạnh có vị trí gần khách hàng hơn để cung ứng loại sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ như mỹ phẩm, thực phẩm, dược phẩm. Không những thế, động lực thúc đẩy ngành kho lạnh cũng đang bùng nổ nhu cầu lớn từ thị trường vaccine Covid-19 và các loại dược phẩm khác trong tương lai.

Khảo sát mới nhất của JLL cũng cho thấy, tất cả vaccine hàng đầu đều yêu cầu nhiệt độ rất thấp để duy trì hiệu quả. Bài toán bảo quản và lưu chuyển lạnh cho vaccine có thể là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng quan trọng tiếp theo cho chuỗi cung ứng và ngành hậu cần.

Ở thành phố Michigan (Mỹ) và Bỉ, công nhân sẽ đặt vaccine vào các khay, sau đó sẽ được đưa vào các hộp lạnh được theo dõi bằng GPS chứa đầy đá khô để giữ cho vaccine lạnh ở nhiệt độ hơn cả mùa đông Bắc Cực. Xe tải của công ty cung cấp dịch vụ chuyển phát hàng sẽ vận chuyển vaccine lên máy bay, hoặc trực tiếp đến bệnh viện và các điểm tiêm chủng.

Đây đều là những tiêu chuẩn không hề dễ dàng cho một loại dịch vụ chưa từng có trên thị trường, hứa hẹn sẽ mang lại lợi nhuận không nhỏ nhưng bên cạnh đó cũng là nhiều thách thức cho các nhà đầu tư và cung cấp dịch vụ muốn nắm bắt cơ hội.

Bà Trang Bùi, Giám đốc Cấp cao mảng Thị trường JLL Việt Nam cho biết, tình hình dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp trên toàn cầu đang thúc đẩy ngành logistics tăng trưởng nhanh và tự động hóa cao, trong đó phân khúc kho vận lạnh sẽ trở thành xu hướng chính trong thời gian tới.

Logistics đa phương thức và chuỗi kho lạnh dành cho các sản phẩm nhạy cảm với độ nhiệt như thực phẩm, mỹ phẩm hay vaccine sẽ đòi hỏi các nhà cung ứng dịch vụ hậu cần không ngừng đổi mới. Vệc cải tiến quy trình cũng như công nghệ kho lạnh sẽ diễn ra mạnh mẽ trong năm 2021 để không để vuột mất cơ hội hưởng lợi từ các phân khúc tăng trưởng nhu cầu rất nhanh này.

Link gốc bài viết: https://vnexpress.net/chuoi-cung-ung-lanh-dang-nong-nhat-nganh-logistics-4211217.html

Cần kết nối, hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics và chủ hàng sử dụng, nhất là khi các FTA như EVFTA, RCEP đang phát huy hiệu quả.

Trao đổi với DĐDN, ông Đào Trọng Khoa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Logisitcs Việt Nam (VLA) nhấn mạnh, phát triển hạ tầng lĩnh vực vận tải và vùng kinh tế và xuất nhập khẩu trọng điểm giúp giảm chi phí logistics một cách cơ bản, tức giảm chi phí thương mại, đảm bảo “mặt trời vẫn tiếp tục tỏa nắng ở Việt Nam”.Cần kết nối, hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics và chủ hàng sử dụng, nhất là khi các FTA như EVFTA,RCEP đang phát huy hiệu quả.

Trao đổi với DĐDN, ông Đào Trọng Khoa, Phó chủ tịch Hiệp hội Logisitcs Việt Nam (VLA) nhấn mạnh, phát triển hạ tầng lĩnh vực vận tải và vùng kinh tế và xuất nhập khẩu trọng điểm giúp giảm chi phí logistics một cách cơ bản, tức giảm chi phí thương mại, đảm bảo “mặt trời vẫn tiếp tục tỏa nắng ở Việt Nam”.

 

Khảo sát của Vietnam Report thực hiện tháng 10-11/2020 cho thấy năng lực hoạt động của 87% số doanh nghiệp logistics tại thời điểm này đạt mức trên 60% so với trước đại dịch. Điều này cho thấy ngành logistics Việt Nam đang dần hồi phục.

-Tuy nhiên, chi phí logistics của Việt Nam còn cao so với trung bình thế giới, thưa ông?

Đúng vậy, chi phí logistics của chúng ta còn cao, trong số khoảng 4.000 doanh nghiệp của toàn ngành thì 97% DNNVV, doanh nghiệp siêu nhỏ, chất lượng dịch vụ, quy mô, vốn, kinh nghiệm, trình độ quản lý và công nghệ thông tin- chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao còn hạn chế.

Bên cạnh đó, do phương thức mua bán hàng hoá hiện tới 91% xuất khẩu hàng hóa của nước ta theo điều kiện FOB và nhập khẩu theo điều kiện CIF, cho nên các dịch vụ về vận chuyển đối ngoại, bảo hiểm ... đều do khách hàng nước ngoài đảm nhiệm và quyết định. Ngay đến dịch vụ vận tải quốc tế cũng do hãng vận tải nước ngoài chi phối.

 
-Vậy các yếu tố nào đang làm tăng chi phí logistics tại Việt Nam, thưa ông?

Có 5 yếu tố quyết định và làm tăng chi phí logistics.

Thứ nhất là phụ phí tại cảng biển mà chủ tàu container nước ngoài đang thu chủ hàng Việt Nam. Ví dụ mức phụ phí tại cảng Hải Phòng, chặng Hải Phòng-Hongkong là USD 20/TEU và USD 40/FEU; Hải Phòng-Singapore là USD 40/TEU và USD 80/FEU và chặng Hải Phòng-Japan là USD 100/TEU và USD 200/FEU. Việc chủ tàu container nước ngoài thu các loại phụ phí như trên làm tăng cao chi phí logistics hàng hóa XNK.

Thứ hai là thời gian thông quan. Hạn chế nhất trong thông quan hàng hóa XNK là việc kiểm tra chuyên ngành, gây tốn kém về thời gian và làm tăng chi phí logistics. Theo Báo cáo của Bộ Tài chính vào tháng 9/2020 “Kiểm tra nhiều nhưng phát hiện kết quả rất thấp (chưa đến 0,036%); chi phí kiểm tra chuyên ngành cao”.

Thứ ba là cơ cấu vận tải. Trong nhiều năm qua, thị trường vận tải hàng hóa cả nội địa ở Việt Nam đã và đang phụ thuộc quá mức vào đường bộ, chiếm tới 63,4% thị phần vận tải hàng hoá năm 2019. Trong khi chi phí vận tải đường bộ quá cao. Các phương thức vận tải có năng lực vận chuyển lớn, tốc độ cao và chi phí thấp như đường sắt, đường thuỷ và hàng hải vẫn còn kém phát triển.

Thứ tư, tính kết nối và cơ cấu hạ tầng của các phương thức vận tải chưa cao. Hiện nay do đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm trọng điểm làm cho tính kết nối giữa các phương thức vận tải hay các doanh nghiệp, thậm chí trong cùng một phương thức chỉ mang tính cục bộ, không có sự kết nối. Ngoài ra, đội ngũ xe tải chuyên chở hàng hóa còn chưa sử dụng hết công suất, chỉ dùng khoảng 70-75% công suất chiều về.

Thứ năm là năng lực doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics chưa cao. Doanh nghiệp đa phần là nhỏ và vừa, sự liên kết hạn chế và chưa chặt chẽ. Trong khi đó, mức độ ứng dụng KHCN chưa cao, nhân lực có trình độ thiếu hụt trầm trọng.

- Vậy chúng ta cải thiện các yếu tố này như thế nào thưa ông, đặc biệt trong bối cảnh các FTA bắt đầu có hiệu lực?

Trước hết, cần kết nối, hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics và chủ hàng sử dụng dịch vụ, nhất là khi các FTA như EVFTA, RCEP đang phát huy hiệu quả.

Tập trung tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng logistics tập trung vào lĩnh vực vận tải và vùng kinh tế và XNK trọng điểm, qua đó góp phần giảm chi phí logistics một cách cơ bản.

Cụ thể, xây dựng thêm các cảng biển nước sâu phục vụ cho chuyên chở hàng hóa nội vùng châu Á, Đông Bắc Á và Châu Âu, Châu Mỹ. Đẩy nhanh việc phát triển đường cao tốc Bắc - Nam, qua đó rút ngắn thời gian vận chuyển Bắc - Nam. Cao tốc kết nối Khu vực đồng bằng Sông Cửu Long với Tp. HCM và Cụm Cảng Cái Mép Thị Vải.

Phát triển vận tải đường thuỷ nội địa đồng bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long và cải thiện các tuyến đường thuỷ nội địa khác, tập trung vào cảng và phương tiện xếp dỡ. Ví dụ Tuyến ĐT Hải Phòng – Bắc Ninh, Khoảng cách từ Cảng ICD Tân Cảng Quế Võ tới cụm Cảng Đình Vũ Hải Phòng khoảng 115km, và tới Cảng HICT khoảng 135km. Thời gian hành trình Hải Phòng – Quế Võ (Bắc Ninh) hết khoảng 8giờ – 11giờ, sà lan sức chở 120 TEU. Thời gian vận chuyển đường thuỷ dài gấp 3 lần đường bộ nhưng đổi lại chi phí vận chuyển thấp hơn khoảng 20% so với đường bộ.

Cùng với đó, cải thiện hiệu quả vận tải đường sắt nội địa và quốc tế. Theo đó, sớm đầu tư phát triển đường sắt tốc độ cao Bắc Nam. Sử dụng phương thức vận tải đường sắt hỗ trợ cho vận tải đường bộ. Phát huy tác dụng của vận chuyển đường sắt trong thời gian đại dịch COVID-19, để vận chuyển hàng hóa hoa quả tươi, hàng đông lạnh xuất khẩu, cắt giảm được thủ tục tại biên giới và giảm cước vận chuyển so với đường bộ.

Đặc biệt, tăng cường vận chuyển đường sắt quốc tế đi Châu Âu. Xuất khẩu hàng trái cây và nông sản đông lạnh bằng đường sắt sang Trung Quốc và từ đó đi Trung Á, châu Âu, ví dụ 24 ngày tới Nga và 27 ngày tới Đức, ngắn hơn đường biển.

- Xin cảm ơn ông!

Link gốc bài viết: https://enternews.vn/go-diem-nghen-ha-tang-logistics-186506.html

Tại Diễn đàn Logitics Việt Nam 2020, tổ chức ở Hà Nội ngày 26/11/2020, với chủ đề “Cắt giảm chi phí logistics, Nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) đã có bài trinh bày về “Các biện pháp giảm chi phí Dịch vụ logistics, Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế”. Trong đó có đề nghị biện pháp về phát triển vận tải hàng hóa bằng đường không, mở các tuyến bay chuyên chở hàng hóa quốc tế trực tiếp. Đề nghị này đã được đánh gia cao về tính khả thi của nó.

 

Đề nghị của VLA cũng phù hợp với tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 7709/VPCP-CN, ngày 15/9/2020 của Văn Phòng Chính phủ gửi Bộ Giao thông vận tải về việc nghiên cứu “có một hãng hàng không (Cargo Airlines) với đội bay chuyên chở hàng hóa riêng biệt phục vụ cho sản phâm nông nghiệp Việt Nam, cho các tuyến đường riêng biệt”.

Hiện nay nước ta có tiềm năng rất lớn về xuất khẩu nông, thủy sản. Năm 2019 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông, thủy sản của Việt Nam đạt gần 25,5 tỷ USD.Vận chuyển hàng hóa bằng đường không của Việt Nam chiếm một tỷ lê khoảng 0,2% tổng khối lương, nhưng chiếm đến 25% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước do hàng có giá trị cao. Nông sản Việt Nam đã có mặt tại nhiều thị trường lớn như Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… tuy nhiên, do tính chất đặc thù của nông sản là chu kỳ sử dụng ngắn, dễ hư hỏng, có tính thời vụ nên việc vận chuyển bằng đường không là một giải pháp quan trọng nhằm giữ thị trường và tăng sức cạnh tranh cho nông sản Việt. 

Các hãng hàng không Việt Nam mặc dù đang trong quá trình phát triển nhưng quy mô còn nhỏ so với các hãng trên thế giới và trong khu vực. Vận chuyển hàng hóa hàng không chủ yếu tập trung khai thác bụng máy bay hành khách mà chưa có đầu tư vào máy bay chuyên chở hàng hóa (freighter).Vì vậy, để phát triển vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không nói chung và các mặt hàng nông sản nói riêng phải có một hãng hàng không với đội bay chuyên chở hàng hóa riêng biệt phục vụ các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, cho các tuyến đường riêng biệt. Qua đó sẽ góp phần cắt giảm chi phí logistics.

Xuất phát từ tình hình trên đây, một số doanh nghiệp Hội viên hàng đầu của VLA đã tiến hành thành lập ASEAN CARGO GATEWAY JOINT STOCK COMPANY (ACG), trong tháng 10/2020, có địa chỉ tại 6th Fl Me Linh Point Tower, No. 2 Ngo Duc Ke Street, Ben Nghe Ward, District 1, Ho Chi Minh City, Vietnam. ACG là một công ty dịch vụ hàng không, cung cấp tải, ban đầu khai thác dịch vụ thu gom hàng để chuyên chở bằng máy bay thuê đi và đến Việt Nam, trên tuyến Sài Gòn- Narita-Saigòn (SGN-NRT-SGN) bằng tầu bay A321CEO (gỡ bỏ ghế ngồi).

Tải trọng thương mại hàng hóa (cargo capacity): Khoảng 6.000kg trên khoang hàng (compartments), khoảng 9.000kg trở lên chất trên khoang hành khách (pasenger carbin). Khối lượng hàng hóa (cargo volume): khoảng 36 CBM trên khoang hàng và khoảng 55-65 CBM trên khoang hành khách.

Dự kiến lịch trình bay: TP Ho Chi Minh (SGN) – Tokyo Narita (NRT)- Xuất phát 23:40 giờ - Đến Narita 07:00 giờ. Tokyo Narita-Xuất phát 10:00 giờ - Đên TP Hồ Chí Minh 15:00 giờ. Bay vào các ngày trong tuần.

Giá bán cước dự kiến bán thấp hơn giá thị trường hiện tại khoảng 25%-30% chiều Nhật Bản - Việt Nam. Dự kiến bắt đầu bay vào đầu năm 2021.

Trên cơ sở khai thác thành công đường bay này, ACG sẽ khai thác các đường bay khác.

Đây là một dịch vụ đột phá trong điều kiện khó khăn hiện nay. Cần có sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng nông sản, hải sản và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. Chung tay, nhất định chúng ta sẽ thành công trong việc phục vụ xúc tiến thương mại hàng hóa xuất nhập khẩu nông sản, giảm chi phi phí logistics.

Theo: Nguyễn Tương

Tại Diễn đàn Logitics Việt Nam 2020, tổ chức ở Hà Nội ngày 26/11/2020, với chủ đề “Cắt giảm chi phí logistics, Nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) đã có bài trinh bày về “Các biện pháp giảm chi phí Dịch vụ logistics, Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế”. Trong đó có đề nghị biện pháp về phát triển vận tải hàng hóa bằng đường không, mở các tuyến bay chuyên chở hàng hóa quốc tế trực tiếp. Đề nghị này đã được đánh gia cao về tính khả thi của nó.

 

Đề nghị của VLA cũng phù hợp với tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 7709/VPCP-CN, ngày 15/9/2020 của Văn Phòng Chính phủ gửi Bộ Giao thông vận tải về việc nghiên cứu “có một hãng hàng không (Cargo Airlines) với đội bay chuyên chở hàng hóa riêng biệt phục vụ cho sản phâm nông nghiệp Việt Nam, cho các tuyến đường riêng biệt”.

Hiện nay nước ta có tiềm năng rất lớn về xuất khẩu nông, thủy sản. Năm 2019 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông, thủy sản của Việt Nam đạt gần 25,5 tỷ USD.Vận chuyển hàng hóa bằng đường không của Việt Nam chiếm một tỷ lê khoảng 0,2% tổng khối lương, nhưng chiếm đến 25% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước do hàng có giá trị cao. Nông sản Việt Nam đã có mặt tại nhiều thị trường lớn như Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… tuy nhiên, do tính chất đặc thù của nông sản là chu kỳ sử dụng ngắn, dễ hư hỏng, có tính thời vụ nên việc vận chuyển bằng đường không là một giải pháp quan trọng nhằm giữ thị trường và tăng sức cạnh tranh cho nông sản Việt. 

Các hãng hàng không Việt Nam mặc dù đang trong quá trình phát triển nhưng quy mô còn nhỏ so với các hãng trên thế giới và trong khu vực. Vận chuyển hàng hóa hàng không chủ yếu tập trung khai thác bụng máy bay hành khách mà chưa có đầu tư vào máy bay chuyên chở hàng hóa (freighter).Vì vậy, để phát triển vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không nói chung và các mặt hàng nông sản nói riêng phải có một hãng hàng không với đội bay chuyên chở hàng hóa riêng biệt phục vụ các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, cho các tuyến đường riêng biệt. Qua đó sẽ góp phần cắt giảm chi phí logistics.

Xuất phát từ tình hình trên đây, một số doanh nghiệp Hội viên hàng đầu của VLA đã tiến hành thành lập ASEAN CARGO GATEWAY JOINT STOCK COMPANY (ACG), trong tháng 10/2020, có địa chỉ tại 6th Fl Me Linh Point Tower, No. 2 Ngo Duc Ke Street, Ben Nghe Ward, District 1, Ho Chi Minh City, Vietnam. ACG là một công ty dịch vụ hàng không, cung cấp tải, ban đầu khai thác dịch vụ thu gom hàng để chuyên chở bằng máy bay thuê đi và đến Việt Nam, trên tuyến Sài Gòn- Narita-Saigòn (SGN-NRT-SGN) bằng tầu bay A321CEO (gỡ bỏ ghế ngồi).

Tải trọng thương mại hàng hóa (cargo capacity): Khoảng 6.000kg trên khoang hàng (compartments), khoảng 9.000kg trở lên chất trên khoang hành khách (pasenger carbin). Khối lượng hàng hóa (cargo volume): khoảng 36 CBM trên khoang hàng và khoảng 55-65 CBM trên khoang hành khách.

Dự kiến lịch trình bay: TP Ho Chi Minh (SGN) – Tokyo Narita (NRT)- Xuất phát 23:40 giờ - Đến Narita 07:00 giờ. Tokyo Narita-Xuất phát 10:00 giờ - Đên TP Hồ Chí Minh 15:00 giờ. Bay vào các ngày trong tuần.

Giá bán cước dự kiến bán thấp hơn giá thị trường hiện tại khoảng 25%-30% chiều Nhật Bản - Việt Nam. Dự kiến bắt đầu bay vào đầu năm 2021.

Trên cơ sở khai thác thành công đường bay này, ACG sẽ khai thác các đường bay khác.

Đây là một dịch vụ đột phá trong điều kiện khó khăn hiện nay. Cần có sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng nông sản, hải sản và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. Chung tay, nhất định chúng ta sẽ thành công trong việc phục vụ xúc tiến thương mại hàng hóa xuất nhập khẩu nông sản, giảm chi phi phí logistics.

Theo: Nguyễn Tương

Ngày 26/11/2020, Diễn đàn Logistics Việt Nam 2020 với chủ đề "Cắt giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế", do Bộ Công Thương phối hợp với Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam và UBND thành phố Hà Nội tổ chức đã diễn ra tại Hà Nội. Tham gia gia Diễn đàn có hơn 400 đại diện các Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics (LSP) và đông đảo đại diện của các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội, cơ sở đào tạo về logististics.

Tại Diễn đàn này, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng đã có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng về phát triển ngành dịch vụ logistics Việt Nam, nêu rõ “Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp thu ý kiến, khẩn trương giải quyết các kiến nghị của các hiệp hội, doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học, cắt giảm ngay các thủ tục không cần thiết, đồng thời, nghiên cứu để hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo mọi điều kiện để ngành dịch vụ logistics phát triển.”

 

            (Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng phát biểu tại Diễn đàn Logistics Việt Nam 2020. (Ảnh: VGP/Đoàn Bắc, Chính phủ.vn)

Phó Thủ tướng cho biết, năm 2020, mặc dù chịu tác động lớn của đại dịch COVID-19 nhưng Việt Nam đã thành công trong phòng chống, kiểm soát dịch bệnh và phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Kết quả này có sự đóng góp của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, thành phần kinh tế, trong đó, có đóng góp rất quan trọng của ngành dịch vụ logistics.

Khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế của ngành dịch vụ logistics, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho rằng, bên cạnh những kết quả đạt được trong thời gian qua, ngành logistics Việt Nam vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Đặc biệt là chi phí dịch vụ logistics ở nước ta còn khá cao, làm tăng giá thành, giảm sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam nói riêng, sức cạnh tranh của cả nền kinh tế Việt Nam nói chung. Nguyên nhân cơ bản là do công tác quy hoạch giữa các ngành, lĩnh vực vẫn còn chưa có sự kết nối chặt chẽ với nhau; cơ sở hạ tầng giao thông, thương mại, công nghệ thông tin còn hạn chế; việc kết nối với các nước trong khu vực còn chậm; sự kết hợp giữa thương mại điện tử và logistics chưa thực sự hiệu quả. năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam còn chưa cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Việt Nam chưa có các doanh nghiệp lớn, cung ứng đồng bộ các dịch vụ logistics; nguồn nhân lực cho hoạt động logistics còn chưa đáp ứng được yêu cầu.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho rằng tại Việt Nam, logistics được phát triển từ những năm 1990. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn, logistics đã phát triển mạnh mẽ, Đến nay, hệ thống chính sách, pháp luật về logistics ngày càng được hoàn thiện; kết cấu hạ tầng logistics trong những năm qua đã có những chuyển biến rõ nét, nhiều công trình lớn, hiện đại đã được đầu tư và đưa vào khai thác, sử dụng, phát huy tốt hiệu quả; dịch vụ logistics của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương đối cao đạt 12% đến 14%, tỉ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics đạt khoảng 60-70%, đóng góp khoảng 4-5% GDP; chỉ số năng lực hoạt động logistics (LPI) của Việt Nam xếp hạng 39/160 nước tham gia nghiên cứu, tăng 25 bậc so với năm 2016 và vươn lên đứng thứ 3 trong các nước ASEAN.

Về nhiệm vụ sắp tới, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho biết Chính phủ đã đề ra những yêu cầu rất cụ thể đổi với ngành dịch vụ quan trọng này, trong đó có yêu cầu phải giảm chi phí logistics để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của hàng hoá và nền kinh tế. “Muốn vậy, cần phát triển dịch vụ logistics thành một ngành dịch vụ đem lại giá trị giá tăng cao, gắn dịch vụ logistics với phát triển sản xuất hàng hóa, xuất nhập khẩu và thương mại, phát triển hạ tầng giao thông vận tải và công nghệ thông tin”.Việt Nam cần phát triển thị trường dịch vụ logistics lành mạnh, tạo cơ hội bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, khuyến khích thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; phát huy tối đa lợi thế vị trí địa lý chiến lược, tăng cường kết nối để đưa Việt Nam trở thành một đầu mối logistics quan trọng trong khu vực; tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics; Phát triển các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics về số lượng, quy mô, có năng lực cạnh tranh cao ở thị trường trong nước và quốc tế.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng nhấn mạnh 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm cho các Bộ, ban ngành trong thời gián tới:

Thứ nhất, các Bộ, ngành cần tập trung hoàn thiện hệ thống các quy định, cơ chế, chính sách liên quan đến logistics trong ngành, lĩnh vực mình phụ trách; đảm bảo tính ổn định, đồng bộ, tính minh bạch, khả thi, giảm mạnh thủ tục hành chính và các rào cản để giảm chi phí thực thi cho người dân, doanh nghiệp. Đặc biệt là, hoàn thiện cơ chế chính sách, huy động nguồn lực, giải pháp tiết giảm chi phí, thúc đẩy phát triển logistics cho từng lĩnh vực giao thông (đường bộ, đường biển, đường thủy, đường sắt, đường không), cho từng vùng, miền, địa phương. Cùng với đó, triển khai các nhóm giải pháp tổng thể trong các lĩnh vực thuế, phí, hải quan… nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng, giảm chi phí các hoạt động logistics.

Thứ hai, khẩn trương, rà soát các quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo tính đồng bộ kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng với mục tiêu phát triển ngành dịch vụ logistics. Bảo đảm các quy hoạch, kế hoạch về phát triển kết cấu hạ tầng phù hợp với các chiến lược, quy hoạch về sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Trên cơ sở quy hoạch, xác định rõ danh mục các dự án ưu tiên đầu tư, từ đó có các giải pháp huy động nguồn lực hợp lý để đầu tư một cách hiệu quả. Nghiên cứu để quy hoạch, đầu tư xây dựng các trung tâm dịch vụ logistic lớn có khả năng kết nối tốt với các cảng, các tuyến vận tải chính.

Thứ ba, cần ưu tiên tối đa nguồn lực để hoàn thiện kết cấu hạ tầng, thúc đẩy phát triển logistics. Bộ GTVT đẩy nhanh tiến độ đầu tư các công trình giao thông lớn, đặc biệt là tuyến cao tốc Bắc-Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau; các tuyến cao tốc liên vùng, vành đai; sân bay Long Thành, nâng cấp sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất; hệ thống cảng cửa ngõ quốc tế, cảng thuỷ nội địa…Bên cạnh đó, triển khai đầu tư xây dựng hệ thống trung tâm logistics trên cả nước. Mở rộng kết nối hạ tầng logistics với các nước trong khu vực ASEAN, Đông Bắc Á và các khu vực khác trên thế giới nhằm phát huy tác dụng của vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới và quá cảnh. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành, khai thác vận tải, liên kết các phương thức vận tải, quản lý vận tải đa phương thức, dịch vụ logistics.

Thứ tư, về nhóm giải pháp phát triển doanh nghiệp logistics, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương chủ trì sớm xây dựng các gói giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình triển khai các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc của doanh nghiệp về các vấn đề chính sách và thực thi các hiệp định thương mại tự do như CPTPP, EVFTA và sắp tới là Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực ASEAN và các nước đối tác (RCEP).

Sớm hoàn thành việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics; chỉ rõ “điểm nút” trong chi phí logistics để tập trung phát huy nội lực, tận dụng cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 nhằm tạo đột phá trong phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam.

Thứ năm, Bộ Công Thương thực hiện tốt nhiệm vụ điều phối và phát triển logistics quốc gia; phát huy mạnh mẽ hiệu lực, hiệu quả của cơ chế liên ngành, phối hợp từ Trung ương đến địa phương để kịp thời tái cơ cấu chuỗi cung ứng, dịch vụ logistics quốc tế và trong nước sau khi chấm dứt đại dịch COVID-19 phục hồi kinh tế.

Thứ sáu, tăng cường đào tạo, nâng cao nhận thức và chất lượng nguồn nhân lực. Theo đó, Phó Thủ tướng yêu cầu các trường đại học nghiên cứu xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo về logistics, thành lập khoa logistics; công nhận chuyên ngành đào tạo logistics. Xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề và khung trình độ quốc gia đào tạo nghề về logistics tương thích với trình độ chung của ASEAN và quốc tế. Các cơ sở đào tạo nghề triển khai đào tạo nghề liên quan đến logistics. Đồng thời, hợp tác với các tổ chức đào tạo nước ngoài tiến hành các khóa đào tạo dựa trên thực tế nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, huấn luyện nhân lực về logistics.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh việc các hiệp hội, doanh nghiệp trong ngành dịch vụ logistics chủ động đổi mới mô hình, hoạt động, ứng dụng công nghệ thông tin, nắm bắt thông tin thị trường để có giải pháp huy động nguồn lực, mở rộng sản xuất, kinh doanh. Doanh nghiệp Việt Nam nên chủ động tìm kiếm, liên kết với các doanh nghiệp quốc tế có uy tín để cùng phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ logistics./.

 Nguyễn Tương

Ngày 26/11/2020, Diễn đàn Logistics Việt Nam 2020 đã diễn ra tại Hà Nội. Tham dự Diễn đàn có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Vương Đình Huệ; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng; Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh; Giám đốc phụ trách hoạt động dự án, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Stefanie Stallmeister... cùng đại diện nhiều Bộ, ngành, Hiệp hội và đông đảo các doanh nghiệp logistics trong nước và quốc tế.

Diễn đàn năm nay được tổ chức trong bối cảnh có nhiều đặc điểm mới. Việc triển khai và ký kết các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP đòi hỏi DN phải nỗ lực nâng cao sức cạnh tranh. Trong khi đó, vấn đề chi phí logistics đã được nêu lên nhiều năm qua nhưng hiện vẫn là điểm nghẽn.

Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. 

Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2018, chỉ số năng lực hoạt động logistics (LPI) của Việt Nam xếp hạng 39/160 nước tham gia nghiên cứu, tăng 25 bậc so với năm 2016 và vươn lên đứng thứ 3 trong các nước ASEAN.

Chia sẻ tại Diễn đàn, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nhìn nhận năm 2020, mặc dù chịu tác động lớn của đại dịch Covid-19 nhưng Việt Nam đã thành công trong phòng chống, kiểm soát dịch bệnh và phục hồi, phát triển kinh tế xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Theo Phó Thủ tướng, kết quả này có sự đóng góp của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, thành phần kinh tế. Trong đó, có đóng góp rất quan trọng của ngành logistics.

Tuy nhiên, theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, bên cạnh những kết quả đạt được trong thời gian qua, ngành logistics Việt Nam vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Đặc biệt là chi phí dịch vụ logistics ở nước ta còn khá cao, làm tăng giá thành, giảm sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam nói riêng, sức cạnh tranh của cả nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Nguyên nhân cơ bản là do công tác quy hoạch giữa các ngành, lĩnh vực vẫn còn chưa có sự kết nối chặt chẽ với nhau; cơ sở hạ tầng giao thông, thương mại, công nghệ thông tin còn hạn chế, việc kết nối với các nước trong khu vực còn chậm; sự kết hợp giữa thương mại điện tử và logistic chưa thực sự hiệu quả.

Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam còn chưa cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Việt Nam chưa có các doanh nghiệp lớn, cung ứng đồng bộ các dịch vụ logistics; nguồn nhân lực cho hoạt động logistics còn chưa đáp ứng được yêu cầu.  

Xác định rõ những thời cơ, thách thức trong thời gian tới, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho biết Chính phủ đã đề ra những yêu cầu rất cụ thể đổi với ngành logistics, trong đó có yêu cầu phải giảm chi phí để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của hàng hoá và nền kinh tế. Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm cho các bộ, ban ngành tại Diễn đàn, gồm:

  • Tập trung hoàn thiện hệ thống các quy định, cơ chế, chính sách liên quan đến logistics;
  • Khẩn trương, rà soát các quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo tính đồng bộ kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng với mục tiêu phát triển ngành dịch vụ logistics;
  • Ưu tiên tối đa nguồn lực để hoàn thiện kết cấu hạ tầng, thúc đẩy phát triển logistics;
  • Các bộ, ngành khẩn trương tháo gỡ các vướng mắc để doanh nghiệp dịch vụ logistics, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuận lợi trong việc tiếp cận các nguồn vốn trong và ngoài nước;
  • Bộ Công Thương thực hiện tốt nhiệm vụ điều phối và phát triển logistics quốc gia; phát huy mạnh mẽ hiệu lực, hiệu quả của cơ chế liên ngành, phối hợp từ Trung ương đến địa phương;
  • Tăng cường đào tạo, nâng cao nhận thức và chất lượng nguồn nhân lực.

Diễn đàn Logistic Việt Nam 2020 thu hút sự tham gia của hơn 50 tổ chức quốc tế cùng đại diện các Bộ, ban, ngành và hơn 500 DN hoạt động trong lĩnh vực logistic, sản xuất và xuất nhập khẩu. Trong khuôn khổ Diễn đàn, 2 hội thảo chuyên đề và nhiều hoạt động ký kết hợp tác cũng diễn ra.

Tham gia Diễn đàn Logistics Việt Nam 2020, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) đã có bài trình bày tham luận “Tháo gỡ bất cập nhằm giảm chi phí logistics tại Việt Nam”, và Hội thảo chuyên đề về Chuyển đổi số trong logistics.

Tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng và Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã công bố Báo cáo Logistics Việt Nam 2020. Bản Báo cáo sẽ cung cấp những số liệu cũng như đánh giá xác thực nhất của tình hình phát triển của ngành dịch vụ logistics trong năm 2020. VLA cũng tham gia xây dựng báo cáo với 3 thành viên đại diện.

Cũng trong sự kiện này, VLA đã ký 02 biên bản ghi nhớ hợp tác (MOU) với Hiệp hội Nông nghiệp số (VIDA) về việc hình thành công ty cộng đồng Logitek phát triển công nghệ phục vụ logistics và Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank).

Tại Hội nghị, 12 tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc, có đóng góp trong việc phát triển ngành dịch vụ logistics do VLA đề xuất đã được vinh danh.

 

Theo VLA tổng hợp

Đại dịch COVID-19 có nhiều nguy cơ bùng phát trở lại trên toàn cầu, đặc biệt là trong mùa đông. Nhiều quốc gia ở châu Âu đang phải vật lộn với làn sóng tiếp theo của đại dịch này, có thể còn nghiêm trọng hơn nhiều so với đợt đầu tiên, gây ra lo ngại về một đợt đóng cửa lần nữa các hoạt động kinh tế. Mặc dù với cuộc khủng hoảng ở thế bất lợi hơn về tiềm lực kinh tế, nhưng COVID-19 đã cho thấy những lợi thế nhất định trong quá trình phục hồi và định hình lại các chuỗi cung ứng toàn cầu của khu vực Đông Nam Á.

Bất động sản logistics Đông Nam Á thành điểm nóng

Đa dạng hóa chuỗi cung ứng quốc tế

Sự gián đoạn chưa từng có phát sinh từ đại dịch COVID-19, càng làm nổi bật nguy cơ phụ thuộc quá nhiều vào việc quản lý và điều hành chuỗi cung ứng của một quốc gia duy nhất là Trung Quốc. Một vấn đề đang có lợi cho khu vực ASEAN đó là, các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) đã tìm cách đa dạng hóa chuỗi cung ứng của họ ra khỏi Trung Quốc trong vài năm qua do căng thẳng thương mại ngày càng tăng giữa Mỹ và Trung Quốc cũng như chi phí lao động ở Trung Quốc tăng cao. Bằng cách đa dạng hóa các phần của chuỗi cung ứng sang các nước trong khu vực trong khi vẫn duy trì hoạt động sản xuất giá trị cao hơn ở Trung Quốc với việc áp dụng kỹ thuật số chuyển đổi và tự động hóa. Các nước ASEAN đang có lợi thế để hưởng lợi ngay lập tức từ việc thiết kế lại chuỗi cung ứng này.

Ngay cả trước khi xảy ra đại dịch COVID-19, lĩnh vực thương mại điện tử của khu vực Đông Nam Á đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, tăng gần 600% về giá trị, từ 5,5 tỷ USD năm 2015 lên 38 tỷ USD vào năm 2019, dự kiến sẽ đạt 150 tỷ USD vào năm 2025, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh của logistics phục vụ thương mại điện tử trong 5 năm tới.

Thêm một lợi thế đó là, khi mà các cửa hàng trên khắp thế giới đóng cửa trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, người tiêu dùng đã chuyển sang các nhà bán lẻ trực tuyến để mua sắm các mặt hàng giải trí và thậm chí cả hàng tạp hóa đã tạo ra một động lực lớn cho thương mại điện tử.

Phục hồi logistics từ trong đại dịch

Singapore là một trong những thị trường thương mại điện tử phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á. Quốc đảo này được dự đoán sẽ đạt gần 10 tỷ USD doanh thu bán hàng trực tuyến chỉ trong năm 2020.

Ngành công nghiệp logistics ở Malaysia đã phát triển trong những năm gần đây và sẽ có nhiều động lực để phát triển cùng với xu hướng chuyển dịch của các chuỗi cung ứng trong khu vực. Với sự gia tăng của thương mại điện tử trong nước từ đầu năm 2020 đến nay, các công ty logistics của Malaysia đang tận dụng xu hướng mới nổi này để phát triển các phân khúc mới. Mối quan tâm của các công ty trong các lĩnh vực mới nổi, chẳng hạn như logistics chuỗi lạnh, dịch vụ giao hàng chặng cuối. Nền kinh tế Malaysia dự kiến sẽ tăng trưởng từ 5% - 6%, thúc đẩy sự phát triển của ngành logistics. Chính phủ nước này đã đầu tư 34,3 triệu RM cho cảng container vịnh Sepanggar để cải thiện cơ sở hạ tầng. Cộng thêm các ưu đãi khác nhau được công bố trong Kế hoạch phục hồi kinh tế ngắn hạn trị giá 35 tỷ RM sẽ giúp khuyến khích dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhiều hơn. Những ưu đãi kịp thời này cùng với giá bất động sản và lao động cạnh tranh, Malaysia sẽ được định vị là một trong những nước hưởng lợi chính trong số các đối tác ASEAN, trong việc nắm bắt các hoạt động sản xuất và chuỗi cung ứng trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra.

Mặc dù hoạt động logistics Thái Lan lại đang phải đối mặt với những trở ngại trong việc vận chuyển hàng hóa qua biên giới sang Myanmar sau khi Myanmar tuyên bố thắt chặt kiểm soát xuyên biên giới như một phần của các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát COVID-19, bắt đầu từ ngày 17/9/2020. Tuy nhiên, Thái Lan là một trung tâm sản xuất trong khu vực. Đầu tư cơ sở hạ tầng chính của đất nước này tiếp tục thu hút đầu tư trong khu vực đối với ngành logistics.

Điểm sáng Đông Dương

Campuchia đang tìm cách trở thành cửa ngõ vận chuyển của khu vực. Đây là một phần trong tham vọng của nước này trong việc chuyển đổi thành một trung tâm logistics khu vực ASEAN. Theo Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Campuchia - ông Sun Chanthol, nước này đang triển khai nhiều hoạt động để hiện đại hóa cơ sở hạ tầng giao thông và dịch vụ, tập trung vào việc mở các cửa quốc tế mới để giải tỏa và cân bằng tắc nghẽn giao thông ở biên giới. Chính phủ nước này đang tích cực làm việc để nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng đường bộ trên toàn quốc và từng bước mở các cửa khẩu mới. Cơ sở hạ tầng đường bộ và khả năng tiếp cận vận tải hàng hóa sẽ là công cụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia khi chúng đạt đến mức thuận tiện hơn.

Sứ mệnh biến đổi hình ảnh của Campuchia trên trường quốc tế và nâng cao thu nhập quốc dân đã tạo ra một dòng ổn định các dự án cơ sở hạ tầng mới bất chấp sự gián đoạn sâu rộng của COVID-19 đối với nền kinh tế toàn cầu. Theo Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính, mặc dù COVID-19 tiếp tục lan rộng, chính phủ nước này đã không đình chỉ hoặc hủy bỏ bất kỳ dự án cơ sở hạ tầng mới nào. Bộ này cũng cho biết đã ký một thỏa thuận hợp tác kỹ thuật với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) cho giai đoạn II của “Dự án Cải thiện hệ thống logistics của Campuchia”.

Những nỗ lực thúc đẩy ngành logistics của Chính phủ Campuchia vẫn đang ở giai đoạn đầu. Kế hoạch dài hạn là biến Campuchia trở thành một trong những trung tâm logistics hấp dẫn của khu vực ASEAN và thu hút nhiều nhà đầu tư đến thiết lập các nhà máy và doanh nghiệp tại đây. Hoạt động giao nhận hàng hóa của Campuchia vào năm 2025 sẽ đạt gấp đôi mức của năm 2016 (trích dẫn các dự đoán do JICA công bố vào tháng 4 năm 2018). Campuchia và Singapore đã khởi động Dự án Logistics Phnôm Pênh. Dự án sẽ phát triển hơn nữa cơ sở hạ tầng chuỗi cung ứng và logistics của Campuchia như một phần của sáng kiến kết nối tăng trưởng thông minh, không chỉ thực hiện các giải pháp chuỗi cung ứng hiện đại mà còn hỗ trợ tăng trưởng trong lĩnh vực logistics trên toàn ASEAN.

Bất chấp sự ảnh hưởng từ COVID-19, Việt Nam được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia khống chế được sự lây lan của dịch bệnh COVID-19. Bên cạnh cơ hội đến từ logistics cho thương mại điện tử, những hiệp định thương mại tự do (FTA) mới được Việt Nam ký kết với những đối tác thương mại lớn như Liên minh châu Âu (EVFTA) mang lại nhiều thuận lợi cho ngành dịch vụ logistics, là đòn bẩy tăng trưởng quan trọng sau đại dịch COVID-19. Những hiệp định như EVFTA sẽ là cú hích cho hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu của Việt Nam. Khi hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu phát triển thì sẽ kéo theo sự phát triển của ngành logistics.

Theo VLR

Trong đề án trình HĐND TP.HCM về phương án thu phí cảng biển, Sở GTVT đã đưa ra bảng thu phí, đối tượng thu và thời gian thu phí.

Theo Sở GTVT TP.HCM hiện nay đề án thu phí cảng biển đang được sở lấy ý kiến từ các đơn vị có liên quan.

Theo đó, đối tượng và phạm vi áp dụng bao gồm: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu qua các cửa khẩu cảng biển trên địa bàn TP.HCM.

thu-phi-cang-bien
Bảng thu phí cảng biển ở TP.HCM được xây dựng trên cơ sở TP Hải Phòng đã xây dựng và thu trước đó. Ảnh: ĐT.

Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa tạm nhập-tái xuất, hàng chuyển khẩu, hàng gửi kho ngoại quan, hàng quá cảnh sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ tiện ích công cộng khu vực cửa khẩu cảng TP.HCM.

Bên cạnh đó các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa gửi kho ngoại quan mở tờ khai tại Hải quan ngoài cửa khẩu tại các tỉnh, TP khác nhưng làm thủ tục chuyển cửa khẩu và thực hiện niêm phong hải quan tại các Chi cục Hải quan cửa khẩu thuộc Cục Hải quan TP.HCM.

Trong đó, các trường hợp được miễn thu phí gồm: Hàng hóa nhập khẩu phục vụ trực tiếp cho an ninh, quốc phòng; hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để phục vụ đảm bảo an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh.

Sở GTVT cho biết đơn vị được giao nhiệm vụ thu phí sẽ giao Cảng vụ đường thủy nội địa - đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở GTTV tổ chức quản lý và thu phí.

thu-phi-cang-bienMô  hình thu phí như sau. Ảnh: ĐT.

Cục Hải Quan TP, các đơn vị kinh doanh cảng sẽ cùng phối hợp hỗ trợ kiểm tra, giám sát việc nộp phí. Các đơn vị không dùng tiền mặt khi thanh toán mà chuyển qua hệ thống 24/7 của Hải quan TP.

Đối với việc sử dụng nguồn thu, Sở GTVT kiến nghị tỉ lệ trích để lại tối đa 5%, giao UBND TP quyết định tỉ lệ cụ thể cho từng đơn vị có liên quan. Việc quản lý, sử dụng tiền phí được trích để lại phục vụ công tác thu phí bảo đảm đúng quy định của Luật phí, lệ phí và các văn bản hướng dẫn có liên quan.

Số thu nộp vào ngân sách TP: Toàn bộ số thu phí kết cấu hạ tầng sau khi trừ chi phí phục vụ công tác thu phí được nộp vào ngân sách TP để quản lý và bố trí sử dụng có mục tiêu cho đầu tư và bảo trì kết cấu hạ tầng cảng biển.

Các đơn vị sẽ thực hiện niêm yết công khai tại địa điểm thu và công khai trên trang thông tin điện tử của các đơn vị được giao nhiệm vụ thu phí về tên phí, mức thu, phương thức thu và các văn bản quy định thu phí.

Thời gian thu phí như sau: Giai đoạn 1 (gồm 5 tháng đầu năm 2021) tổ chức thu phí tại Cảng Cát Lái. Trong thời gian này sẽ đánh giá, rút kinh nghiệm và hoàn thiện công tác thu phí tại cảng Cát Lái để triển khai cho các cảng còn lại trên địa bàn TP.

Giai đoạn 2 từ tháng 6-2021 tổ chức thu phí cho toàn bộ các cảng trên địa bàn TP.

Lý do đề xuất thu phí thành hai giai đoạn: Sau khi được HĐND thông qua, thì cần thiết có thời gian bố trí dự toán chi ngân sách để thực hiện công tác thuê tư vấn, lựa chọn nhà thầu cung cấp máy móc thiết bị, phần mềm, nhà thầu cung cấp dịch vụ đường truyền, dữ liệu…Ngoài ra, việc triển khai ngoài thực tế cần thiết phải có giai đoạn hoàn thiện trước khi mở rộng triển khai cho toàn bộ các bến cảng.

Hải Phòng đã áp dụng

Theo Sở GTVT TP.HCM thì TP Hải Phòng là đơn vị duy nhất cả nước đã áp dụng mức thu phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng khu vực cửa khẩu cảng biển để hỗ trợ chi phí đầu tư và bảo trì kết cấu hạ tầng của đô thị cảng biển.

thu-phi-cang-bien
Phương án thu phí cảng biển đang được TP Hải Phòng áp dụng. Ảnh: ĐT.

Trong những năm qua, với nguồn thu phí này và nguồn ngân sách TP, Hải Phòng đã đầu tư hàng loạt công trình đường bộ phục vụ hạ tầng cảng biển, đơn cử một vài công trình lớn như: Cầu vượt nút giao Lê Hồng phong-Nguyễn Bỉnh Khiêm (300 tỉ đồng), cầu vượt nút giao đường 356 - Nguyễn Bỉnh Khiêm (1.310 tỉ đồng), nút giao Nam Cầu Bính (1.482 tỉ đồng)… và chi phí duy tu bảo trì hàng năm lên đến 1.500 tỉ đồng.

Những công trình này đã góp phần cho việc lưu thông hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tốt hơn, giảm các chi phí và thời gian vận chuyển do không còn tình trạng ùn tắc giao thông, giúp Hải Phòng vươn lên vị trí số 2 về lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua Cảng (chỉ sau TP.HCM) với tốc độ tăng trưởng là 15%/năm. 

Theo: Báo điện tử Pháp luật TP HCM

Xây dựng hệ sinh thái kho vận số, khai thác dữ liệu hiện có của doanh nghiệp thành lợi thế cạnh tranh để lưu chuyển hàng hóa hiệu quả

Một trong 3 nhiệm vụ chiến lược của ngành kho vận (logistics) TP HCM giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030 là tập trung phát triển logistics cho lĩnh vực thương mại điện tử. Theo đó, đặt ra yêu cầu thống nhất và đồng bộ các giải pháp từ vận tải, giao thông, thương mại và khoa học công nghệ; phối hợp với các sở, ngành liên quan với các cơ chế chính sách từ nhà nước và chính quyền địa phương sẽ thúc đẩy quá trình đổi mới này.

Rào cản chi phí đầu tư

Theo thống kê thực trạng số hóa ngành logistics trên địa bàn TP, tỉ lệ doanh nghiệp (DN) trên địa bàn TP có ứng dụng ERP đạt 44,8%, ứng dụng hệ thống quản lý kho hàng đạt 41,4%, quản lý vận tải đạt 44,8% và vẫn còn số lượng lớn DN chưa tiếp cận được. Con số này cho thấy ngành logistics vẫn chưa tối ưu hóa hiệu quả hoạt động.

Các DN đa quốc gia đều được trang bị các hệ thống này, khi vào hoạt động tại thị trường Việt Nam, đều dùng chung hệ thống của công ty mẹ. Với các công ty trong nước, chỉ có những DN lớn chuyên làm kho phân phối như Tổng Công ty Tân Cảng, Gemadept, Vinafco, U&I, TBS, Transimex, Sotrans… mới có đủ nguồn lực để phát triển các ứng dụng quản lý kho hàng, đạt mức đồng bộ dữ liệu giữa các bộ phận giao hàng, quản lý hàng tồn, kế toán tài chính.

Khó khăn lớn nhất trong chuyển đổi số ngành logistics, nhất là các DN nhỏ và vừa, là vấn đề kinh phí đầu tư. Đầu tư theo hướng tự động hóa của các mô hình và phần mềm nước ngoài thì tốn nhiều chi phí đầu tư ban đầu; còn nếu tự làm theo mô hình nội bộ sẽ mất nhiều thời gian, khó khăn, chi phí nguồn nhân lực công nghệ thông tin… Do đó, DN chưa mạnh dạn hoặc không có khả năng đầu tư. Bên cạnh đó, một số nguyên tắc chưa có trong luật và hệ thống quản lý nhà nước cũng tạo rào cản cho số hóa trong logistics như chưa có luật về logistics, luật về e-logistics, thủ tục hành chính phức tạp… Việc liên kết, đồng bộ dữ liệu giữa các hãng vận chuyển (đường bộ, đường thủy, đường hàng không), hải quan, cảng biển, cảng hàng không và trong chính nội bộ DN logistics đang gặp khó khăn. Tỉ lệ DN logistics có sử dụng công nghệ mã vạch chỉ chiếm 10,2% và sử dụng công nghệ nhận dạng qua tần số vô tuyến (RFID) chiếm 2,5%. Tỉ lệ này còn thấp, cần được cải thiện trong thời gian tới vì mã vạch và RFID là công cụ cơ bản để quản lý dòng lưu chuyển hàng hóa.

Tuy 99% phương tiện vận tải gắn thiết bị giám sát hành trình GPS, tỉ lệ DN sử dụng chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) để khai báo hải quan, xử lý vận đơn… đạt 72,4% nhưng việc ứng dụng điện toán đám mây, công nghệ Blockchain, trí tuệ nhân tạo vẫn còn rất hạn chế trong các DN logistics trên địa bàn.

Xây dựng phiên bản số

Bước sang giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030, ngành logistics TP đặt mục tiêu xây dựng phiên bản số của hệ sinh thái logistics, khai thác dữ liệu hiện có của DN thành lợi thế cạnh tranh, tối ưu hóa quá trình lưu chuyển hàng hóa (xuất nhập khẩu và phân phối nội địa). Phiên bản số sẽ giúp cơ quan quản lý nhà nước hoạch định chiến lược quản lý, phát triển phù hợp, phát hiện và chủ động tháo gỡ khó khăn, bất cập trong lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn; đồng thời giúp DN logistics kết nối và liên kết dịch vụ với nhau để cung cấp chuỗi dịch vụ, tiết kiệm chi phí.

Đơn cử, chi phí giao thông vận tải hiện chiếm đến 60% tổng chi phí logistics, do đó việc số hóa hoạt động vận tải cần được thực hiện với nhiều giải pháp đồng bộ giữa giao thông và vận tải. Xây dựng dữ liệu chung lưu trữ và quản lý tập trung dữ liệu hành trình của các phương tiện giao thông, vận tải nhằm số hóa hoạt động, từ đó có cơ sở điều chỉnh về quy hoạch giao thông, bố trí bãi đậu xe nội thành, khu vực trung chuyển hàng hóa, bố trí giờ giấc ưu tiên. Khai thác giải pháp giám sát hình ảnh bằng camera (an ninh, giao thông) để đo đếm lưu lượng giao thông, cảnh báo các khu vực có khả năng kẹt xe. Nghiên cứu phát triển thuật toán, khai thác trí tuệ nhân tạo, mô phỏng dựa trên dữ liệu để đưa ra cảnh báo về phân luồng giao thông, đề xuất về vị trí thiết lập khu vực trung chuyển hàng hóa.

Xây dựng hệ sinh thái logistics số để tối đa hóa giá trị thực hiện các dịch vụ thông qua việc kết nối đối tác trên toàn chuỗi dịch vụ theo hướng tích hợp, trọn gói và định hướng "one-stop shopping" (cửa hàng một điểm đến). 

Đồng bộ nền tảng giao dịch số

Sở Công Thương TP HCM đang phối hợp Sở Thông tin và Truyền thông, Hiệp hội DN dịch vụ logistics Việt Nam, Hội Tin học TP nghiên cứu thành lập trung tâm ứng dụng công nghệ thông tin, thiết lập đồng bộ nền tảng giao dịch số về logistics để khắc phục hạn chế trong nhận dạng hàng hóa, lộ trình giao hàng, nâng hạ và xếp dỡ hàng hóa và tính liên thông giữa DN với cơ quan quản lý nhà nước. Sở Công Thương sẽ chủ trì phối hợp với Sở Giao thông Vận tải, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Khoa học và Công nghệ (chủ quản Trung tâm Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý) xây dựng và hoàn thiện bản đồ GIS về logistics. Bản đồ số sẽ cung cấp thông tin về hệ thống kho hàng, hệ thống bán lẻ (siêu thị, cửa hàng tiện lợi...) và dữ liệu xe tải hàng hóa để giúp cơ quan quản lý nhà nước và DN cùng "nhìn thấy" những luồng di chuyển hàng hóa chủ yếu trên địa bàn. Dữ liệu bản đồ số sẽ giúp cho việc khai thác hiệu quả các kho hàng, các cung đường vận chuyển.

Theo: Báo Người lao động (https://nld.com.vn/cong-nghe/toi-uu-hoa-kho-van-tu-chuyen-doi-so-2020092622261873.htm)

Ngày 03/11/2020, Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) tổ chức Hội thảo trực tuyến "Thực trạng thiếu hụt container rỗng và các giải pháp khắc phục cho doanh nghiệp". Hơn 100 người đã tham gia Hội thảo và cùng thảo luận các giải pháp.

Hội thảo có sự tham gia của Ông Đào Trọng Khoa – Phó Chủ tịch VLA, Giám đốc Công ty TNHH T & M Forwarding, Ông Nguyễn Thanh Bình - Ủy viên Ban Chấp hành VLA, Phó Tổng Giám đốc Công ty Gemadept Logistics, Ông Nguyễn Duy Minh – Tổng thư ký VLA, Tổng giám đốc Công ty Interlogs và thu hút sự tham gia của hơn 100 người đến từ các doanh nghiệp, hội viên VLA.

Nhiều vấn đề liên quan đến thực trạng thiếu hụt Container rỗng đã được đề cập đến như: các khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong vấn đề container rỗng với hãng tàu, trong các tuyến vận tải nào, nguyên nhân của những khó khăn này… Trước đó, theo kết quả khảo sát, các khó khăn khi hoạt động với hãng tàu về container rỗng: 40% doanh nghiệp nêu khó khăn do depot, 43% doanh nghiệp nói do bộ phận Booking, 17% doanh nghiệp được hỏi trả lời do bộ phận kinh doanh. Vấn đề thiếu hụt container rỗng xảy ra đối với tất cả các tuyến vận tải, trong đó tuyến vận tải đến Hoa Kỳ chiếm phần lớn. 

Tại Hội thảo, các chuyên gia của VLA cùng doanh nghiệp hội viên đã thảo luận và tìm giải pháp cho các nhóm vấn đề: luân chuyển Container rỗng, tránh thiếu Container cục bộ; vấn đề liên quan đến hãng tàu, chủ hàng, depot… VLA đã đưa ra những giải pháp tích cực để các doanh nghiệp và các bên liên quan có thể tìm ra những biện pháp khắc phục phù hợp nhằm cải thiện tình trạng thiếu hụt container rỗng như hiện nay.

+        Luân chuyển Empty Cont giữa Port of Discharge ( CMTV/ Lạch Huyện ) và Port/Place of Delivery ( Port/ICDs): vai trò hợp tác giữa  Carrier và Cty Barging , Carrier và Cty Trucking trong công tác di chuyển Empty từ nơi thừa đến nơi thiếu;

+        Tăng cường ủy quyền công tác sửa chữa Empty Cont cho các Depot để đáp ứng hiệu quả chất lượng E.Cont và giảm thời gian chờ;

+        Hãng tàu thông báo chính xác vị trí Empty cont để các Cty Trucking giảm chi phí và thời gian di chuyển;

+        Quản lý hiệu quả tình trạng Empty Cont chính xác tại các Depot/ICDs và cung cấp thông tin minh bạch cho Chủ hàng/ Cty Trucking;

+        Chiến lược bán hàng , nhận booking phù hợp theo  năng lực có khả năng cung ứng.  Có chế độ thưởng phạt phù hợp với các chủ hàng trả rỗng nhanh/chậm;

+        Điều chuyển Empty cont hiệu quả tránh tình trạng thiếu cục bộ;

+       Chủ hàng ( đặc biệt chủ hàng nhà máy VIP )  sử dụng hiệu quả Empty cont để trả lại cho Depot dùng cho các chủ hàng khác;

+        Đáp ứng các yêu cầu của Carrier về thủ tục booking để giữ chỗ sớm;

+        Nâng cao hiệu quả quản lý Empty Cont đảm bảo phân phối đến Chủ hàng / Cty trucking Empty Cont chất lượng tiêu chuẩn theo đúng booking

Giải pháp Công nghệ “Tối ưu sử dụng vỏ container” do Công ty Smartlogs giới thiệu cũng được xem như một trong những giải pháp mà doanh nghiệp có thể tham khảo, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.

Cuối năm thường là cao điểm của tình trạng khan hiếm container rỗng, đặc biệt năm 2020 do ảnh hưởng của dịch COVID -19 làm thay đổi cán cân xuất nhập khẩu càng khiến cho tình trạng này trở nên phức tạp hơn. Với những thông tin, giải pháp được đề xuất tại Hội thảo, doanh nghiệp sẽ có cái nhìn toàn cảnh về thực trạng container rỗng và có những cách gỡ khó riêng cho doanh nghiệp của mình./.

Theo VLA

Trên cơ sở phân tích về tổng quan và hiện trạng của chi phí logistics nước ta trên đây, Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ logistics Việt Nam có các khuyến nghị cụ thể cải thiện hệ thống logistics gắn liền với việc cắt giảm chi phí logistics.

Tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng logistics (hạ tầng cứng và hạ tầng mềm), tập trung vào lĩnh vực vận tải và vùng kinh tế trọng điểm, qua đó góp phần giảm chi phí logistics một cách căn cơ.

Xây dựng thêm các cảng biển nước sâu phục vụ cho chuyên chở hàng hóa nội vùng châu Á, Đông Bắc Á và Châu Âu, Châu Mỹ. Hiện tổng công suất của hệ thống cảng biển Việt Nam khoảng 550 triệu tấn hàng hóa/năm, trong khi đó hàng hóa thông qua cảng biển năm 2019 là 655 triệu tấn, trong đó hàng container là 19,346 triệu TEU, mức tăng trung bình năm là từ 10% - 14%. Nhiều tàu phải làm hàng ngoài phao. Khi thực hiện đầy đủ cam kết của các Hiệp định FTA thế hệ mới - đặc biệt là EVFTA, CPTPP và RCEPT, hàng hóa thông qua cảng biển sẽ tăng nhanh. Đặc biệt là khu vực đồng bằng Sông Cửu Long - nơi tập trung XK lúa gạo, thủy sản, trái cây của cả nước - cần sớm có luồng tàu và cảng có thể cho tàu trọng tải 20.000 DWT trở lên vào ra chở hàng thường xuyên.

Đẩy nhanh việc phát triển đường cao tốc Bắc - Nam, qua đó rút ngắn thời gian vận chuyển Bắc - Nam. Phát triển và cải thiện giao thông kết nối Đồng bằng Sông Cửu Long - TP. HCM-  Bà Rịa - Vũng Tàu, nhất là kết nối với Trung tâm logistics Cái Mép Hạ và cảng nước sâu. Hiện nay, Khu vực đồng bằng Sông Cửu Long chỉ có khoảng 40km đường cao tốc trong tổng số khoảng 1.000km của cả nước

Đầu tư phát triển đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và cải thiện các tuyến đường thủy nội địa, tập trung vào cảng và phương tiện xếp dỡ. Sử dụng hai phương thức này hỗ trợ việc chuyển đổi các phương thức vận tải, chuyển từ vận tải đường bộ. Phát huy tác dụng của vận chuyển đường sắt, vận chuyển hàng hóa quả tươi XK qua Trung Quốc thay cho đường bộ, cắt giảm được thủ tục tại biên giới và cước vận chuyển so với đường bộ.

Phát triển các Trung tâm dịch vụ logistics phục vụ cho phát triển kinh tế và XNK vùng, nhất là khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, TP. Hồ Chi Minh và Hải Phòng. Đi đôi với phát triển các Trung tâm logistics vùng là xây dựng các ICD khu vực có quy mô lớn, gần cảng biển. Ví dụ như hình thức ICD Long Biên, Hà Nội, có tổng diện tích 120.000m2, công suất khai thác 123.000 TEUs, được quy hoạch khoa học và trang bị hệ thống máy móc thiết bị hiện đại, hoạt động 24/7, phục vụ hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và đường không. ICD Long Biên dễ dàng kết nối các tỉnh thành phía Bắc, là nơi thông quan, điểm trung chuyển và phát triển dịch vụ vận chuyển hàng hóa xuyên biên giới với Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Camphuchia… Hàng khi cập cảng Hải Phòng sẽ được kéo thẳng về ICD Long Biên mới mở tờ khai, doanh nghiệp không phải đến cửa khẩu nhận/lấy hàng, tiết kiệm được thời gian, giảm chi phí logistics.

Phát triển một trung tâm logistics cho đồng bằng Sông Cửu Long ở TP. Cần Thơ, sẽ tập trung được hàng hóa đủ cho việc vận chuyển hàng hóa XK, tận dụng được phương tiện chuyên chở. Ở đây ngoài yêu cầu một trung tâm logistics thực sự, cần có phương tiện chiếu xạ (để không phải vận chuyển hoa quả về TP. HCM chiếu xạ gây tổn thất và tăng chi phí), kiểm tra chuyên ngành… để không phải dỡ hàng lên xuông nhiều lần tránh tổn thất sau thu hoạch và tiết kiệm thời gian, chi phí logistics. Tận dụng sân bay Cần Thơ chuyên chở hàng hóa đông lạnh, rau quả tươi xuất khẩu hoặc tiêu dùng nội địa trực tiếp hoặc thông qua cảng hàng không Tân Sơn Nhất để đi tiếp. Qua đó sẽ giảm tổn thất sau thu hoạch đưa đến chi phí logistics hàng nông sản sẽ giảm tối đa.

Tập trung đầu tư phát triển kho bãi đông lạnh và chuỗi cung ứng lạnh phục vụ trực tiếp cho việc sản xuất, tiêu dùng nội địa và xuất khẩu hàng thủy sản, nông sản, rau quả. Hiện tại, cả nước mới có 48 kho lạnh với công suất khoảng 600.000 pallets, trong đó miền Nam có 36 kho, miền Bắc có 11 kho và miền Trung chỉ có 1 kho lạnh. Cả nước cũng mới có hơn 700 xe lạnh và 450 toa xe lửa chuyên chở container chở hàng lạnh. Chuỗi cung ứng lạnh mang lại lợi ích thiết thực trong giảm chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí logistics, gia tăng hiệu quả, giảm tổn thất cho các chuỗi cung ứng hàng hóa dễ hư hỏng - tỷ lệ tổn thất trung bình hiện nay là còn cao; đối với trái cây và rau quả, mức độ tổn thất có thể lên đến 35%, 45% và khoảng 25-30%, đối với các sản phẩm thủy, hải sản. Tuy nhiên, quy hoạch kho lạnh chưa đồng bộ trong cả nước, chưa đáp ứng được yêu cầu, mới đáp ứng từ 30% - 35% yêu cầu. Hệ thống kho lạnh mới tập trung vào phục vụ XNK là chính, bên cạnh phục vụ thị trường nội địa.

Phát triển và sử dụng hiệu quả kho lạnh ngoại quan, giảm chi phí logistics cho hàng XNK. Đây là một hoạt động logistics cần được quan tâm đầu tư phát triển cả kết cấu hạ tầng và quy chế pháp luật điều chỉnh. Các DN cung cấp dịch vụ logistics trong nước và nước ngoài rất quan tâm sử dụng kho lạnh và kho lạnh ngoại quan và mong được tháo gỡ về mặt cơ chế, chính sách. Trước hết là chính sách về giá điện cho kho lạnh. Hiện nay, giá điện cho kho lạnh của các DN logistics cao hơn giá điện cho sản xuất hàng đông lạnh từ 25% - 30% trong khi chi phí điện năng cho kho lạnh chiếm từ 30% - 35% giá thành sản xuất của kho lạnh, qua đó làm cho chi phí logistics hàng đông lạnh XNK và tiêu dùng nội địa đang ở mức cao, cần giảm giá điện để cắt giảm chi phí logistics.

Tăng cường việc chuyển đổi số trong các hoạt động logistics (hạ tầng mềm), ứng dụng công nghệ block-chain, trí tuệ nhân tạo... thực hiện e-DO và e-B/L, hệ thống quản lý vận tải, cảng biển... Phát triển một nền tảng trục để kết nối các ứng dụng công nghệ có sẵn nhằm phục vụ chung cho cả cộng đồng cung cấp dịch vụ logistics và cộng đồng chủ hàng (sản xuất và xuất nhập khẩu) mà trước mắt là các hội viên Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam và Hiệp hội Nông nghiệp số. Trên cơ sở đó sẽ tiếp tục lan tỏa đến các DN của Hiệp hội ngành nghề khác tham gia. Ứng dụng thành công công nghệ số sẽ hỗ trợ rất lớn việc cắt giảm chi phí logistics, nhất là phát triển Agro-logistics của Việt Nam.

Thúc đẩy hợp tác giữa các DN chủ hàng (nhà Sản xuất, XNK, bán buôn) và DN cung cấp dịch vụ logistics, trong việc lựa chọn phương thức vận chuyển, lựa chọn người vận chuyển và hành trình - lịch trình vận chuyển, trong việc kết hợp hiệu quả giữa vận tải đường bộ với các phương thức vận tải khác, nhằm giảm chi phí logistics một cách chủ động.

Thay đổi phương thức mua bán hàng hóa XNK: Hiện nay, khoảng 91% hàng hóa xuất khẩu của nước ta theo điều kiện FOB và nhập khẩu theo điều kiện CIF. Các dịch vụ về vận chuyển đối ngoại, bảo hiểm... đều do khách hàng nước ngoài đảm nhiệm và quyết định. Họ có mối liên hệ mật thiết với các DN cung cấp dịch vụ xuyên quốc gia thâu tóm và quyết định các hoạt động và chi phí logistics. Trên giác độ Nhà nước, chúng ta không thu được nguồn ngoại tệ từ việc cung cấp các dịch vụ logistics đó, bên cạnh đó các DN XNK của Việt Nam không nắm được quyền chủ động về thuê tàu, mua bảo hiểm. Vì vậy, các DN sản xuất và XNK nên chủ động chuyển đổi hình thức mua bán phù hợp. Trên cơ sở đó các DN cung cấp dịch vụ logistics có thể tư vấn việc chọn phương thức vận chuyển, hãng vận chuyển, đàm phán giá cước vận chuyển... do có mối quan hệ tốt với họ, góp phần làm tăng năng lực cạnh tranh của DN XNK do việc giảm chi phí logistics lâu dài.

Có sự phối hợp, hợp tác giữa chủ hàng và DN cung cấp dịch vụ logistics: các DN cung cấp dịch vụ logistics có thể đưa ra các đề nghị giảm chi phí logistics cho DN sản xuất, XNK và lưu thông phân phối. Xin nêu một ví dụ: Theo một báo cáo tại Hội nghị Cắt giảm chi phí Logistics- Giải pháp tối ưu nhằm nâng cao chuỗi giá trị nông sản Việt vào ngày 09/07/2020 thì: Giá cước một container lạnh 40’ từ TPHCM ra Hà Nội bằng đường bộ khoảng 80,000,000 triệu VND thời gian khoảng 3 ngày. Trong khi đó Công ty vận chuyển đuờng sắt Ratraco, một hội viên của VLA, cung cấp dịch vụ chuyên chở hàng container lạnh 40’, mỗi tuần 2 chuyến (Thứ 4 và Chủ Nhật), giá cước khoảng 27,000,000 triệu VND /container hoa quả và các loại hàng để nhiệt độ mát, chạy từ Ga Trảng Bom- Đồng Nai đi Yên Viên, mỗi chuyến từ 19-20 Containers lạnh 40’. Thời gian chạy tàu 3 ngày. Trong khi đó nếu đi bằng đường biển ra Hà Nội là 14,300.000 triệu VND /Container lạnh 40’ (Giá cước là 8.0 triêu đồng/cont 40 lạnh 40’ từ Cảng Saigon ra đến Cảng Hải Phòng, cộng 4.5 triêu, chuyên chở bằng đường bộ (Trucking) từ Hải Phòng lên Hà Nội và 1.8 triêu cộng cả xếp/dỡ hàng), thời gian vận chuyển 4 ngày.

Việc vận chuyển bằng phương thức vận tải biển và đường sắt ngoài việc giúp giảm đáng kể chi phí logistics còn góp phần giảm tải và an toàn giao thông đường bộ.

Cải thiện vận tải hàng hóa bằng đường bộ hai chiều, cải thiện vận tải đô thị.

Thị trường vận tải đường bộ, logistics còn chưa minh bạch, thiếu thông tin, giá cước vận tải cao do đơn vị chủ phương tiện không trực tiếp làm việc với chủ hàng mà phải thông qua nhiều khâu trung gian, môi giới làm hiệu quả khai thác thấp và hệ số chạy rỗng cao. Tính kết nối giữa chủ hàng và chủ phương tiện vận tải, các nhà cung cấp dịch vụ logistics chưa tốt cho nên chưa kết hợp được phương thức vận tải tối ưu làm hạ chi phí logistics. Để tận dụng nguồn hàng đi hai chiều phải thiết lập được một sàn giao dịch uy tín do cơ quan quản lý có thẩm quyền trực tiếp điều hành và kiểm tra các nhà xe uy tín mới cho phép được lên sàn, hoặc một công ty cộng đồng điều hành.

Cơ quan chức năng cần xem xét lại đối với các trạm thu phí BOT có chi phí còn khá cao, các trạm lại rất gần nhau trên một cung đường ngắn; Nghiên cứu giảm bớt số lượng trạm BOT và giảm bớt chi phí cho từng trạm để tránh đội chi phí của doanh nghiệp lên nhiều lần. Hoàn thiện việc thu phí điện tử nhằm giảm ùn tắc và tiết kiệm thời gian lưu thông.

Tình trạng tắc nghẽn giao thông hiện tại và các quy định của thành phố lớn về việc xe tải lớn chở hàng hóa được phép vào thành phố theo giờ quy định làm ảnh hưởng đến lưu lượng và thời gian đình trệ trong vận chuyển, làm tăng chi phí hoạt động cho các DN vận chuyển logistics. Điển hình là TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Để giải quyết vấn đề này, các thành phố, nhất là TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội nên xem xét việc thành lập các khu trung chuyển, giao nhận hàng hóa ở gần nội

Giảm phí và phụ phí đường biển

Bên cạnh việc giảm chi phí đường bộ,việc cắt giảm phí và phụ phí vận tải đường biển có ý nghĩa rất lớn trong việc cắt giảm chi phí logistics của cả nước vì trên 90% hàng hóa XNK của nước ta là đi bằng đường biển.

Hiện tại, các hãng tàu vận chuyển container nước ngoài đang áp đặt việc thu phí và phụ phí rất cao tại các cảng biển Việt Nam đối với hàng hóa XNK ngoài tiền cước vận chuyển. Đây là gánh nặng làm gia tăng cao chi phí logistics đối với hàng hóa vận chuyển bằng đường biển. Cũng như cước vận tải biển, mức phí và phụ phí các hãng tàu container nước ngoài thu chỉ chênh lệch đôi chút giữa các hãng vận chuyển.

Các hãng tàu container nước ngoài đang thu phụ phí THC cao nhưng chỉ trả lại cho cảng ở mức chỉ bằng 30% - 45% mức thu từ các khách hàng XNK. Đề nghị các cơ quan quản lý Nhà nước về vận tải biển và giá cần đẩy mạnh việc quản lý các hãng tàu container nước ngoài không được tăng thu phụ phí THC và các phụ phí khác, thể hiện công cụ quản lý Nhà nước là yếu tố quan trọng nhằm góp phần cắt giảm chi phí logistics quốc gia.      

Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực logistics, phát triển dịch vụ logicstics trên nền tảng công nghệ số.

Theo khảo sát năm 2018 của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logisitics Việt nam (VLA), mức độ ứng dụng khoa học công nghệ tại Việt Nam còn chưa cao, đa phần là các giải pháp đơn lẻ. Khoảng 40% các ứng dụng công nghệ thông tin hiện đang được sử dụng tại các doanh nghiệp Logistics là các ứng dụng cơ bản như quản lý giao nhận quốc tế, quản lý kho hàng, quản lý vận tải, trao đổi dữ liệu điện tử và khai báo hải quan (được ứng dụng nhiều nhất 75% - 100%). Chưa có nhiều doanh nghiêp ứng dụng các giải pháp có tích tích hợp cao. Nhưng các DN lớn đã áp dụng thành công giải pháp công nghệ mang lại hiệu quả của dịch vụ logistics, giảm đáng kể chi phí liên quan, như:

+ Cảng điện tử ePort và Lệnh giao hàng điện tử eDO tại Tân Cảng Sài Gòn: Cảng điện tử ePort giúp khách hàng của Cảng và hãng tàu tiết giảm các công đoạn di chuyển, nhận lệnh, quản lý giấy tờ thủ công, điện tử hóa quy trình làm việc, kiểm soát chặt chẽ hồ sơ, chứng từ giao nhận cũng như thanh toán, giảm ách tắc giao thông khi sản lượng hàng hóa giao nhận tăng cao, đồng thời giảm 2/3 số lượng nhân viên tại khu thủ tục. Tính đến ngày 25/6, hầu hết các hãng tàu đã thực hiện lệnh giao hàng điện tử eDO với Cảng, chiếm tỷ lệ ~ 100% tổng số lệnh giao hàng trong toàn hệ thống cảng của Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn.

+ Ứng dụng giải pháp tổng thể trong dịch vụ logistics (Cargowise): Cargowise là giải pháp công nghệ tổng thể toàn diện, và được đánh giá là hiệu quả nhất trên thế giới hiện nay cho các doanh nghiệp logistics. Hiện tại giải pháp này đang được sử dụng bởi hơn 12.000 doanh nghiệp trên 150 nước với hơn 30 ngôn ngữ, trong đó có 25/25 công ty giao nhận và 40/50 công ty logistics lớn nhất thế giới (theo xếp hạng của Armstrong Associates tháng 10-2019). Chỉ cần duy nhất giải pháp này, toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm mảng cung cấp dich vụ logistics như: giao nhận (forwarding), hải quan, hãng tàu, đại lý, CFS, kho bãi, vận tải, chuyển phát và thương mại điện tử, tuân thủ địa lý, theo dõi định vị, và các bộ phận, phòng ban chức năng khác nhau như kinh doanh, quản lý quan hệ khách hàng CRM, quản lý giá (Pricing), kế toán, nhân sự, quy trình làm việc, chứng từ (Document), eDocs... đều được xử lý và quản lý tập trung trên nền tảng điện toán đám mây)...  Giải pháp đáp ứng những yêu cầu tuân thủ trong vận tải quốc tế như khai báo AMS/ACI/AFR (Mỹ/Canada/Nhật Bản), … Cargowise cũng sẵn sàng cho việc tích hợp với phần mềm e-invoice của bên thứ 3, vì vậy khi việc phát hành hóa đơn điện tử đang sắp trở thành yêu cầu bắt buộc từ 1/11/2020, doanh nghiệp sử dụng giải pháp không cần phải nhập lại dữ liệu cho việc phát hanh hóa đơn điện tử. Thống kê chung cho thấy doanh nghiệp có thể tiết kiệm được đến 15% - 20% nhân lực thông qua việc ứng dụng giải pháp tổng thể này. Quan trọng hơn cả, giải pháp giúp doanh nghiệp dịch vụ logistics cải thiện, kiểm soát tốt dịch vụ của mình, sẵn sàng cho việc gia nhập chuỗi cung toàn cầu, giảm chi phí logistics đáng kể.

+ Hiệp hội Doanh nghiệp VLA và Hiệp hội Nông nghiệp số Việt Nam (VIDA) sẽ thành lập một công ty cộng đồng để phát triển một Nền tảng số tích hợp công nghệ hiện có về logistics để phục vụ cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics và các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu của VIDA trong kinh doanh hàng ngày. Nền tảng này sẽ ứng dụng công nghệ Block-chain và các công nghệ khác. Sản phẩm trước tiên là E-DO cho hàng lẻ đóng trong container chung chủ và e-Bill of Lading…

Cải cách thủ tục hành chính liên, tạo thuận lợi hóa cho thương mại

Hiện tại, các Bộ, ngành đã có những chuyển biến tích cực để thực hiện dịch vụ kiểm tra chuyên ngành (KTCN) theo hướng điện tử hóa, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đặc biệt liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu (XNK). Tuy nhiên, hiện tại các dịch vụ KTCN của các Bộ, ngành chưa kết nối với nhau, chưa kết nối tự động với cơ quan Hải quan. Khi có kết qua KTCN, DN vẫn phải in tờ kết quả hoặc thông báo cho Hải quan biết lô hàng KTCN đã có kết quả lúc đó Hải quan mới thông quan. Ngoài ra, đại lý Hải quan vẫn chưa được thay mặt chủ hàng để ký các văn bản kiểm tra chuyên ngành. Tồn tại lớn nhất hiện nay là DN mất nhiều thời gian và chi phí kiểm tra chuyên ngành còn cao. Chưa áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong KTCN, chưa có quy định công nhận kết quả kiểm tra của các nước xuất khẩu (kể cả xuất xứ từ các nước có trình độ sản xuất tiên tiến như Úc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada) dẫn đến kéo dài thời gian thông quan hàng hóa.

Vì vậy, đề nghị cần khẩn trương việc rà soát quy định pháp luật liên quan danh mục hàng hóa phải KTCN; giảm tỷ lệ các lô hàng nhập khẩu phải KTCN tại giai đoạn thông quan sang giai đoạn sau thông quan; nhanh chóng sửa đổi các văn bản pháp luật còn vướng mắc, bất cập, không tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. Thực hiện KTCN về kiểm dịch trên cơ sở nguyên tắc quản lý rủi ro, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Công nhận và chấp nhận chất lượng của những nhãn hiệu, nhà sản xuất nổi tiếng, những hàng hóa được sản xuất tại các nước, khu vực có tiêu chuẩn chất lượng cao, tiên tiến như Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản. Tiến hành xã hội hóa KTCN, hình thành các cơ quan, tổ chức có chức năng KTCN tất cả các lĩnh vực tại các cửa khẩu lớn, có lưu lượng hàng hóa XNK nhiều để tránh tình trạng một mặt hàng phải qua nhiều cơ quan KTCN.

Thực hiện các đề án tạo thuận lợi thương mại trên cả nước, như đề án “Thủ tục hải quan trong hoạt động logistics và chống ùn tắc hàng hóa tại cảng Cát Lái” là một trong những minh chứng về hiệu quả của việc cải tiến các qui trình, thủ tục hành chính sẽ mang lại lợi ích to lớn và giúp phần cắt giảm chi phí logistics một cách đáng kể và cần tiếp tục phát triển ở các hoạt động khác. Điểm nổi bật của đề án là hàng hóa được thông quan ngay tại cầu cảng, hiện thực hóa mục tiêu giảm 70% thời gian thông quan hàng hóa, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp và xã hội ước tính khoảng 5.000 tỷ đồng/năm. Đồng thời nâng cao khả năng liên kết vùng, gia tăng khả năng lưu thông hàng hóa XNK từ cảng Cát Lái đến khu vực vành đai và các tỉnh lân cận. Việc triển khai đề án sẽ giảm rất lớn các chi phí trong hoạt động logistics (10).

Các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Bộ GTVT cần công bố chính thức chi phí logistics của Việt Nam hàng năm, làm công cụ giúp cho công tác quản lý và phát triển ngành dịch vụ logistics nói riêng và nền kinh tế nói chung. Qua đó cũng giúp cho dư luận xã hội có cái nhìn đúng về chi phí logistics của Việt Nam. Ở Mỹ, hàng năm chi phí logistics quốc gia được công bố trong Báo cáo về Logistics của Chính phủ Mỹ.

KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ CẮT GIẢM DỊCH VỤ LOGISTICS

Vai trò của Chính phủ Singapore là một trong những yếu tố quan trọng để ngành dịch vụ logistics Singapore phát triển như hiện nay. Chính phủ đã chủ động đề ra và thực thi chiến lược phát triển hệ thống cảng biển, cảng hàng không và trung tâm Logistics, tự do hóa thương mại, tạo thuận lợi cho thương mại và vận tải qua biên giới. Như:

- Tập trung và ưu tiên đầu tư vào phát triển các công trình kết cấu hạ tầng Logistics đầy đủ và hiện đại về cảng biển, cảng hàng không, hệ thống đường cao tốc, các trung tâm Logistics hàng không, đường biển, trở thành trung tâm quốc tế về hàng không, hàng hải và logistics của thế giới.

- Cam kết của Chính phủ trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch cho lĩnh vực Logistics. Đưa ra các cam kết như ưu đãi thuế cho các công ty tàu biển quốc tế; miễn thuế thu nhập từ tàu biển trong 10 năm; hưởng tỷ lệ thuế ưu đãi nhỏ hơn 10% trên mức tăng doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ trong 5 năm và cho vay ưu đãi với việc phát triển đội tàu biển.

- Ứng dụng hệ thống CNTT hiện đại từ cho các hoạt động logistics, như thủ tục trực tiếp cho việc tàu ra vào cảng, xử lý xếp dỡ, chuyển tải hàng hóa, lưu trữ hàng hóa và kết nối với quốc tế.

- Khuyến khích các công ty trong nước liên doanh với các công ty lớn nước ngoài để thiết lập hệ thống Logistics toàn cầu, khuyến khích các công ty đa quốc gia và các nhà cung ứng dịch vụ Logistics quốc tế đặt trụ sở tại nước mình, hỗ trợ các Công ty logistics thiết lập quan hệ và hệ thống thương mại và logistics ở nước ngoài, như VISIP ở Việt Nam. Có chính sách khuyến khich cụ thể đối với các nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài trong lĩnh vực thương mại, vận tải và logistics.

- Đi đôi với ứng dụng công nghệ cao là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho vận tải và logistics. Tổ chức các hoạt động như cấp học bổng và tài trợ nghiên cứu Logistics cho sinh viên, thành lập học viện Logistics châu Á - Thái Bình Dương và phát triển học viện này thành cơ sở đào tạo nguồn nhân lực Logistics hàng đầu châu Á, thành lập viện nghiên cứu Logistics Singapore nhằm phát triển chiến lược và chương trình đào tạo Logistics. Chính phủ giành ra 4,5 triệu Singapore đô la cho việc đào tạo nguồn nhân lực logistics trong 5 năm.

Từ những bài học kinh nghiệm trên, có thể rút ra những bài học cho sự phát triển ngành dịch vụ Logistics Việt Nam và cắt giảm chi phí logistics như sau: - Xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch và được thực thi có hiệu quả. -Phát triển kết cấu hạ tầng logistics cứng và mềm, ứng dụng công nghệ cao. - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. – Thúc đẩy hợp tác và đầu tư trong và ngoài nước. - Cải cách thủ tục hành chính và nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với ngành dịch vụ Logistics, cả xã hội tham gia vào việc phát triển dịch vụ logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Chính vì vậy mà Singapore là một trong những nước có chỉ số hoạt động logistics LPI hàng đầu thế giới, chi phí logistics so sánh với GDP năm 2020 8,5%.

Theo VLA (Lê Duy Hiệp, Đào Trọng Khoa, Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Tương)

Tin nổi bật