Ngày 17/4, tại thành phố Bà Rịa đã diễn ra Hội nghị Tiếp tục thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác cảng biển và kết nối doanh nghiệp logistics khu vực Cái Mép - Thị Vải.

Chú thích ảnh
Cảng quốc tế Cái Mép đón siêu tàu container. Ảnh: Đoàn Mạnh Dương/TTXVN

Hội nghị do UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bộ Giao thông Vận tải, Cục Hàng hải Việt Nam đồng chủ trì.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ông Nguyễn Văn Công đánh giá cao những kết quả đạt được về tăng trưởng hàng hóa qua cảng khu vực Cái Mép - Thị Vải qua từng năm. Thứ trưởng cũng khẳng định, hạ tầng giao thông kết nối cảng rất quan trọng, chính vì vậy tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cần sớm quan tâm đầu tư hệ thống giao thông kết nối với khu vực cảng Cái Mép - Thị Vải. Bên cạnh đó, việc phát triển dịch vụ logistics và công nghiệp sau cảng cũng cần sớm được triển khai để nâng tầm vị thế khu vực cảng Cái Mép Thị Vải trong thời gian tới. 

Ông Bùi Thiên Thu, Phó Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam cho biết, triển khai những giải pháp của Đề án nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác cảng biển nhóm 5 và các bến cảng khu vực Cái Mép - Thị Vải từ năm 2013 đến nay đã tạo sự dịch chuyển hàng hóa theo chiều hướng tích cực giữa các cảng biển trong nhóm. Hàng hóa từ khu vực cảng truyền thống là Thành phố Hồ Chí Minh dịch chuyển ra các cảng mới là Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu. Tỷ trọng hàng hóa qua cảng biển Vũng Tàu tăng từ 30,6% ( năm 2013) lên 34,1% ( năm 2018).

Còn hàng hóa container cũng có sự dịch chuyển từ các cảng của Thành phố Hồ Chí Minh sang các cảng biển khác, cụ thể, năm 2013 tỷ trọng hàng hóa container thông qua các cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Vũng Tàu tương ứng 82% - 0,2% - 17,8% thì đến năm 2018 tỷ trọng này là 63,6% - 6,3% - 30%. Riêng trong năm 2018, nếu tính tất cả hàng hóa vận tải bằng các phương tiện thủy nội địa đến và xếp dỡ qua cảng biển tại Bà Rịa - Vũng Tàu là khoảng 5,29 triệu TEU, đạt khoảng 78% công suất thiết kế của các bến cảng container.

Bên cạnh đó, ông Bùi Thiên Thu cũng cho biết, thời gian qua thông qua việc triển khai các giải pháp về giá dịch vụ và phí, lệ phí hàng hải đã góp phần rất quan trọng trong việc thu hút hàng hóa đến cảng đặc biệt khu vực Cái Mép - Thị Vải, nâng cao hiệu quả khai thác kết cấu hạ tầng bến cảng đã được đầu tư. Cụ thể, trong năm 2018 đã thông qua lượng hàng hóa gấp 1,93 lần về tấn và 2,98 lần về TEU, tăng trưởng hàng hóa qua biển bình quân trong 5 năm cũng đạt mức cao, với 14,5% về tổng hàng và container là 25,4%.

Ngoài ra, việc triển khai các chính sách theo nội dung đề án đã góp phần tạo niềm tin, hấp dẫn các hãng tàu mở rộng tuyến kết nối với các bến cảng khu vực Cái Mép - Thị Vải. Nếu như, năm 2013 chỉ có 8 tuyến /tuần tàu mẹ và tàu nội địa châu Á cập cảng khu vực Cái Mép - Thị Vải, thì nay khu vực cảng Cái Mép - Thị Vải đã thiết lập được 28 chuyến tàu/tuần, trong đó có 22 tuyến vận tải quốc tế và 6 tuyến vận tải nội địa….

 
 
 

Cục Hàng hải Việt Nam cũng đã có một số đề xuất kiến nghị tới Chính phủ cho phép sử dụng nguồn vốn dự phòng trung hạn để đầu tư nạo vét tuyến luồng Cái Mép - Thị Vải; cho phép xây dựng và áp dụng cơ chế cảng mở tại Cái Mép - Thị Vải để thúc đẩy trung chuyển quốc tế; xem xét, bố trí nguồn vốn đầu tư tuyến đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu kết nối với khu vực cảng Cái Mép - Thị Vải.

Đối với UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải quản lý phát triển hạ tầng cảng biển theo đúng quy hoạch, để nâng cao hiệu quả hạ tầng bến cảng. Bên cạnh đó, chỉ đạo các cơ quan liên quan sớm triển khai đầu tư và khai thác trung tâm logistics Cái Mép và hạ tầng đường giao thông kết nối đồng bộ với trung tâm logistics Cái Mép….

Phát biểu tham luận tại hội nghị, đại diện một số doanh nghiệp đầu tư cảng, các hãng tàu đã có nhiều kiến nghị liên quan đến các vấn đề như: Đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông kết nối; thủ tục cho xuất nhập khẩu hàng hóa; phát triển dịch vụ logistics và công nghiệp sau cảng; tổ chức quản lý, đầu tư khai thác  và các chính sách về phí và lệ phí…

Các đại biểu tham dự hội nghị cũng cho rằng, hiện nay các cảng khu vực Cái Mép - Thị Vải còn những tồn tại hạn chế như: vẫn chưa cân đối với cung cầu, chưa phát triển kịp thời các dịch vụ hàng hóa gắn liền với cảng, kết nối cảng còn thiếu đồng bộ…

Hoàng Nhị (TTXVN)

RBIL, IRAQ – Media OutReach. Từ ngày 14 đến 18/4/2019 tại Iraq, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Tập đoàn Deutsche Post DHL đã hợp tác với Trung tâm điều phối khủng hoảng chung của Chính quyền khu vực Kurdistan (JCC), đã tổ chức Hội thảo “Get Airports Ready for Disaster – GARD)” (tạm dịch “Chuẩn bị sân bay sẵn sàng cho ứng phó với thảm họa thiên tai”) để tập huấn cho nhân viên sân bay sẵn sàng cho các hoạt động logistics xử lý các tình huống sau thảm họa. Hội thảo kéo dài năm ngày đã cung cấp kiến thức và kỹ năng cho một nhóm hỗn hợp gồm ba mươi (30) nhân viên sân bay cũng như nhân viên từ các cơ quan chính phủ có liên quan, tại Sân bay quốc tế Erbil. Đây là lần đầu tiên một hội thảo GARD được tổ chức tại Iraq.

(Trong ảnh từ trái sang phải) ông Chris Weeks, Phó chủ tịch phụ trách các dịch vụ nhân đạo của Deutsche Post DHL Group; ông Vakhtang Svanidze, Đại diện thường trú của UNDP tại Iraq; ông Hoshang Mohammed, Tổng giám đốc Trung tâm Điều phối chung khủng hoảng của Chính quyền khu vực Kurdistan thuộc Bộ Nội vụ Iraq và ông Kawa Aziz, Phó giám đốc Sân bay quốc tế Erbil tại Hội thảo GARD tại Iraq.

Ngoài các vấn đề an ninh, Iraq còn phải đối mặt với nhiều mối đe dọa từ thiên tai do khí hậu đa dạng, bao gồm hạn hán, sa mạc hóa, lũ lụt, bão cát và động đất. Dọc biên giới với Iran, nơi các mảng kiến tạo Á-Âu và Ả Rập gặp nhau, nên động đất thường xuyên xảy ra. Vào tháng 11/2017, một trận động đất lớn với cường độ 7,3 độ Richter đã tấn công khu vực này. Đó là trận động đất lớn nhất từng được ghi nhận ở khu vực này và được coi là trận động đất kinh hoàng nhất thế giới trong năm 2017.

Ông Chris Weeks, Phó chủ tịch, phụ trách mảng các dịch vụ nhân đạo của Tập đoàn Deutsche Post DHL nhận xét: “Là người thường xuyên trực tiếp tham gia các hoạt động giúp đỡ sau thảm họa thiên tai, chúng tôi đã thấy tình trạng các sân bay bị choáng ngợp bởi sự hỗn loạn của khối lượng lớn hàng viện trợ cứu trợ, nhân viên Liên hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ (NGO), các tổ chức quân sự và đông đảo người dân muốn nhanh chóng đi khỏi nơi gặp nạn.

Thêm vào đó, có một thực tế là, viện trợ nhân đạo đôi khi đến nhanh hơn, nhiều hơn mà khả năng sân bay có thể tổ chức vận chuyển đến nơi cần cứu trợ. Khi đó xuất hiện tình trạng tắc nghẽn lớn trong dòng chảy của logistics cứu trợ. Thời gian là rất quan trọng trong một tình huống như vậy và cần có một sân bay hoạt động hiệu quả hơn để tiếp nhận các máy bay cùng việc xử lý hàng viện trợ ra ngoài cho những người có nhu cầu cầng nhanh càng tốt. Vì vậy, chúng tôi thực sự tự hào khi được tổ chức hội thảo GARD đầu tiên của mình tại Iraq và hy vọng, chính quyền địa phương thấy được giá trị và ích lợi của khóa đào tạo này”.

Hội thảo GARD đặt ra mục tiêu là xác định các khu vực trong sân bay có khả năng đóng vai trò là địa điểm chính cho các hoạt động logistics trong điều kiện thảm họa. Hội thảo cũng đánh giá năng lực của các sân bay để xử lý khối lượng lớn người cùng hàng hóa tiếp tế, cứu trợ và kho bãi.

Ông Hoshang Mohamed, Tổng giám đốc Trung tâm Điều phối chung khủng hoảng của Chính quyền khu vực Kurdistan thuộc Bộ Nội vụ Iraq cho biết: “Chúng tôi rất hài lòng với sự hợp tác này và hoan nghênh Hội thảo “GARD”. Qua đó, năng lực xử lý khủng hoảng của chúng tôi sẽ được nâng cao hơn để ứng phó và giải quyết các hậu quả của thảm họa. Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn tới Văn phòng UNDP tại Iraq và Tập đoàn Deutsche Post DHL vì đã thực hiện chương trình này”.

Ông Vakhtang Svanidze, Đại diện thường trú của UNDP tại Iraq nhận định: “Sự chuẩn bị của sân bay rất quan trọng với UNDP, vì mối đe dọa của thiên tai vẫn còn cao. Ví dụ, do mưa lớn, Iraq tiếp tục chứng kiến lũ lụt quy mô lớn. cướp đi sinh mạng, di dời người dân và phá hủy tài sản. Đập Mosul vỡ gây ra những rủi ro đáng kể cho cuộc sống và sinh kế của các cộng đồng dễ bị tổn thương dọc theo đồng bằng của Tigris. Vận tải hàng không rất quan trọng để cung cấp viện trợ nhân đạo thông minh và nhanh chóng. Do đó, UNDP tích cực ủng hộ vai trò quan trọng của công tác chuẩn bị đối phó với thảm họa” .

Kể từ năm 2009 đến nay, đã có gần 50 hội thảo của GARD được tổ chức tại 24 quốc gia và gần 1.160 người tham dự được đào tạo. Tại khu vực Trung Đông, các hội thảo trước đây đã được tổ chức tại Tehran (năm 2017), Almaty (năm 2017), Aqaba (năm 2016), Amman (năm 2014), Yerevan (năm 2013) và Beirut (năm 2012).

Trên mạng Internet: dpdhl.com/press

Tại mạng xã hội Twitter: twitter.com/DeutschePostDHS

Thông tin về hội thảo GARD

Vào năm 2009, GARD được phát triển bởi Tập đoàn Deutsche Post DHL hợp tác với UNDP, với mục đích chuẩn bị các sân bay trong các khu vực dễ bị thiên tai để xử lý sự gia tăng của hàng cứu trợ sau khi thảm họa thiên tai xảy ra. GARD cũng cho phép các tổ chức và cơ quan viện trợ khác nhau hiểu rõ hơn các quy trình tại sân bay sau hậu quả của thảm họa, điều này sẽ tạo điều kiện cho các nỗ lực cứu trợ và tăng cường phối hợp tổng thể. Tính đến nay, các hội thảo GARD đã được tổ chức tại hơn 43 sân bay ở Armenia, Bangladesh, Cộng hòa Dominican, El Salvador, Ecuador, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Lebanon, Macedonia, Maldives, Nepal, Panama, Peru, Philippines, Seychelles, Sri Lanka và Thổ Nhĩ Kỳ.

Giảng viên và tài liệu đào tạo của GARD được Tập đoàn Deutsche Post DHL cung cấp miễn phí, trong khi UNDP dẫn đầu việc thực hiện dự án và tạo điều kiện cho sự phối hợp với chính quyền quốc gia và các bộ có liên quan. Việc tổ chức đào tạo của GARD và chi phí logistics được UNDP chi trả hoàn toàn với sự đóng góp tài trợ của Chính phủ Đức.

GARD là một phần không thể thiếu trong Chương trình GoHelp của Tập đoàn Deutsche Post DHL, trong đó Tập đoàn tập hợp tất cả các hoạt động của mình liên quan đến việc chuẩn bị và quản lý thảm họa. Là một hình thức phòng ngừa khủng hoảng, các hội thảo GARD được sử dụng để chuẩn bị các sân bay để đối phó với các thảm họa thiên nhiên tiềm ẩn. Nếu xảy ra thảm họa, Đội ứng phó thảm họa (DRT) cung cấp viện trợ khẩn cấp và đảm bảo rằng các nguồn cung cấp cứu trợ có thể được chấp nhận theo cách phối hợp và chuyển cho các tổ chức viện trợ chính xác.

Thông tin về Deutsche Post DHL Group

Tập đoàn Deutsche Post DHL là công ty cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh và logistics hàng đầu thếgiới. Tập đoàn Deutsche Post DHL sở hữu 2 thương hiệu mạnh: Deutsche Post là nhà cung cấp dịch vụ bưu chính hàng đầu châu Âu và DHL cung cấp một loạt các dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế, vận tải hàng hóa và quản lý chuỗi cung ứng, cũng như các giải pháp logistics thương mại điện tử.

Tập đoàn Deutsche Post DHL hiện sử dụng khoảng 550.000 nhân viên làm việc tại hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tập đoàn đã tạo ra doanh thu hơn 61 tỷ Euro trong năm 2018.

Thông tin về UNDP

UNDP hoạt động ở gần 170 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, giúp xóa đói giảm nghèo và giảm bất bình đẳng và loại trừ. UNDP giúp các quốc gia phát triển chính sách, kỹ năng lãnh đạo, khả năng hợp tác, năng lực thể chế và xây dựng khả năng phục hồi để duy trì kết quả phát triển.

Media OutReach Corporate News

Cục Hàng hải cho biết: Theo thống kê đến ngày 25/01/2019, có tổng số 24.184 container phế liệu đang lưu giữ tại cảng biển trên toàn quốc; trong đó, tại cảng Hải Phòng có 6.991 container phế liệu đang lưu giữ. Trường hợp container lưu giữ tại cảng dưới 90 ngày thì các DN vẫn đang thực hiện thủ tục hải quan để thông quan theo quy định và container trên 90 ngày, cơ quan hải quan đã và đang tìm chủ hàng theo quy định (hiện có 3.085 container đã quá hạn thông báo nhưng chưa có người đến nhận), điều này đã gây thiệt hại cho các hãng tàu biển và DN nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất (mỗi ngày DN phải chi trả từ tiền lưu kho, bãi từ 40 - 50 USD/container/ngày và không có đủ nguyên liệu sản xuất).
 
Thực hiện Chỉ thị 27/CT-TTg ngày 17/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp bách tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu srn xuất, ngày 07/3/2019, Cục Hàng hải Việt Nam đã có văn bản số 646/CHHVN-VTDVHH ngày 07/3/2019 gửi các hãng tàu biển, doanh nghiệp cảng biển, chủ hàng và hiệp hội ngành hàng về việc triển khai đề xuất chủ trương miễn giảm giá dịch vụ lưu container, lưu bãi cho các DN chủ hàng nhập khẩu.
 
Đến ngày 22/3/2019, Cục Hàng hải Việt Nam đã nhận được một số báo cáo của DN cảng biển, chủ hàng nhưng vẫn chưa nhận được thông tin phản hồi đầy đủ từ các hãng tàu, đại lý hãng tàu (người vận chuyển).
 
Để chủ động lập kế hoạch triển khai phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan trong công tác xử lý hàng phế liệu đang tồn đọng được nhanh chóng, trả lại không gian cho cảng biển, hạn chế tình trạng hư hỏng hàng hóa, tránh thiệt hại cho hãng tàu, chủ hàng và các bên liên quan, Cục Hàng hải Việt Nam yêu cầu hãng tàu biển như sau:
 
Chủ động phối hợp chặt chẽ với các DN kinh doanh cảng biển, đại lý hãng tàu kiên quyết đưa xuống tàu để vận chuyển về Việt Nam những đơn hàng có Giấy chứng nhận/Giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu (còn hiệu lực) nhằm phòng ngừa vận chuyển phế liệu bất hợp pháp từ xa ngoài biên giới;
 
Chủ tàu, chủ hãng vận tải biển phải chịu trách nhiệm đối với lô hàng phế liệu đang vận chuyển của tổ chức, cá nhân không có Giấy chứng nhận/Giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu; DN kinh doanh cảng biển và chủ hàng không xuất trình được Giấy chứng nhận/Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất còn hiệu lực, hạn ngạch nhập khẩu và chưa thực hiện ký quỹ đảm bảo phế liệu nhập khẩu theo quy định; chịu trách nhiệm về việc cho phép bốc dỡ các lô hàng phế liệu nhập khẩu nêu trên.
 
Cục Hàng hải Việt Nam còn yêu cầu các hãng tù khẩn trương thực hiện báo cáo thông tin ề các chủ hàng nhập khẩu, đại lý chủ hàng của lô hàng phế liệu đang tồn đọng tại cảng biển.
 
Báo cáo hiện trạng và nguyên nhân tồn đọng; thống kê, phân loại hàng hóa container phế liệu hiện đang tồn đọng tại cảng biển và làm rõ nguyên nhân, có biện pháp xử lý ngay việc vận chuyển, bốc dỡ các lô hàng phế liệu về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu hoặc không rõ địa chỉ nơi nhận (vô chủ) đã được bốc dỡ lên các cảng biển Việt Nam.
 
Đề xuất phương án miễn, giảm phí lưu container, lưu bãi đối với container nhập khẩu có xác định được chủ hàng đã được thông quan.
Cục Hải quan Hải Phòng cho biết, công văn được đưa ra dựa trên tinh thần đẩy mạnh quan hệ đối tác hải quan doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất, xuất nhập khẩu, Cục Hải quan Hải Phòng kiên quyết không gây khó khăn, phiền hà, không thực hiện thêm các thủ tục hành chính ngoài quy định.
 
Mặt khác, theo quy định của pháp luật hiện hành, doanh nghiệp, công dân được làm những việc pháp luật không cấm; cơ quan hải quan, công chức hải quan chỉ được làm những việc pháp luật quy định.
 

Công chức hải quan tiến hành kiểm tra cơ sở sản xuất doanh nghiệp gia công. (Nguồn: Cục HQ Hải Phòng)

Theo quy định hiện hành, nội dung quy định kiểm tra cơ sở sản xuất được quy định tại khoản 3 Điều 57 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 được sửa đổi bổ sung tại khoản 37 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính trong đó không quy định nội dung kiểm tra điều kiện về phòng cháy chữa cháy và môi trường.
 
Điều kiện đảm bảo về phòng cháy chữa cháy (Căn cứ Luật Phòng cháy và chữa cháy ngày 29 tháng 6 năm 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy ngày 22 tháng 11 năm 2013) và môi trường (Luật Bảo vệ môi trường năm 2014) sẽ do các cơ quan chức năng khác kiểm tra theo quy định của pháp luật theo đúng chức năng và thẩm quyền.
 
Khoản 37 Điều 1 Thông tư 39 (sửa đổi Điều 57 Thông tư 38) về kiểm tra cơ sở, năng lực gia công, sản xuất hàng xuất khẩu, nơi lưu giữ nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, sản phẩm xuất khẩu có quy định rõ về 3 nội dung kiểm tra như sau:
 
Một là kiểm tra địa chỉ cơ sở gia công, sản xuất, nơi lưu giữ nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, sản phẩm xuất khẩu: kiểm tra địa chỉ cơ sở gia công, sản xuất, nơi lưu giữ nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, sản phẩm xuất khẩu ghi trong thông báo CSSX hoặc ghi trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
 
Hai là kiểm tra ngành nghề đầu tư kinh doanh: đối chiếu nội dung ngành nghề doanh nghiệp công bố thông tin theo quy định tại Luật Doanh nghiệp, ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật Đầu tư với thực tế hồ sơ và hoạt động nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị của tổ chức, cá nhân;
 
Ba là kiểm tra nhà xưởng, máy móc, thiết bị.
Tổng cục Hải quan cho biết: Năm 2018, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Ủy ban 1899 và quyết tâm cao của các bộ, ngành việc triển khai NSW, ASW, cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành và tạo thuận lợi thương mại đã được thực hiện một cách bài bản, toàn diện trong phạm vi cả nước. Kết quả đạt được đã tạo ra bước đột phá và góp phần đáng kể trong việc giảm thời gian và chi phí làm thủ tục cho doanh nghiệp, tạo thuận lợi thương mại, nâng cao kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2018 đạt 480 tỷ USD.
 
Tuy nhiên, theo đánh giá chung công tác triển khai NSW, ASW, kiểm tra chuyên ngành và tạo thuận lợi thương mại vẫn chưa thực sự đi vào thực chất và có chiều sâu, việc tổ chức thực thi trong thực tế còn có khoảng cách so với quy định tại các văn bản pháp luật, mức độ hài lòng của doanh nghiệp chưa cao, số lượng doanh nghiệp tham gia chưa nhiều, chưa đảm bảo tạo thuận lợi thương mại với chống gian lận thương mại.
 
So với năm 2018, số lượng thủ tục mới cần được triển khai qua NSW trong năm 2019 không lớn. Do đó, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Chủ tịch Ủy ban 1899 đã yêu cầu ngoài việc cần hoàn thành các chỉ tiêu về số lượng thủ tục triển khai thì các bộ, ngành cần tập trung thực hiện theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả về số lượng hồ sơ, thủ tục cũng như cải thiện thực chất hơn về điều kiện kinh doanh và thủ tục kiểm tra chuyên ngành, phục vụ đắc lực cho doanh nghiệp trong quá trình xuất nhập khẩu, làm thỏa mãn mức độ hài lòng của doanh nghiệp.
 
Để hoàn thành các mục tiêu trên, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành phải tập trung thực hiện các giải pháp. Cụ thể, về giải pháp triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN, các bộ, ngành tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh, người và phương tiện xuất nhập cảnh, quá cảnh theo định hướng: Cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết; đơn giản hóa quy trình, thủ tục và bộ hồ sơ, chứng từ cần phải nộp/xuất trình. Xây dựng và công bố bộ dữ liệu quóc gia về biểu mẫu và chứng từ điện tử trong lĩnh vực hành chính và thương mại để áp dụng chung cho tất cả các thủ tục hành chính thực hiện thông qua NSW.
 
Đồng thời, các bộ, ngành rà soát văn bản pháp luật về quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý và kiểm tra chuyên ngành theo hướng tạo thuận lợi thương mại nhưng đảm bảo chống gian lận thương mại.
 
Năm 2019 các bộ, ngành hoàn thành việc ban hành sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, kiểm tra chuyên ngành và các danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện quản lý và kiểm tra chuyên ngành kèm theo mã số HS, có quy chuẩn, tiêu chuẩn kiểm tra.
 
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ triển khai Đề án thí điểm cơ chế bảo lãnh thông quan, Đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và hoàn thiện Cổng thông tin thương mại quốc gia; xây dựng tiêu chí thành lập, giải thể các địa điểm kiểm tra chuyên ngành nhằm đảm bảo hoạt động có hiệu quả, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
 
Đối với tạo thuận lợi thương mại, Phó Thủ tướng yêu cầu phải kiện toàn, đẩy mạnh vai trò thực thi Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại trong Ủy ban 1899; rà soát, đánh giá năng lực thực thi các cam kết tại Hiệp định (bao gồm cả việc rà soát về mặt pháp luật) để đáp ứng yêu cầu thực thi cam kết của Hiệp định một cách thực chất; tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để triển khai Hiệp định; hoàn thiện, nâng cấp Cổng thông tin thương mại Việt Nam nhằm đáp ứng các nghĩa vụ về công bố và minh bạch thông tin theo Hiệp định.
 
Việc triển khai NSW và ASW sẽ được thực hiện theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả về số lượng hồ sơ, thủ tục cũng như cải thiện thực chất hơn về điều kiện kinh doanh và thủ tục kiểm tra chuyên ngành, phục vụ đắc lực cho doanh nghiệp trong quá trình xuất nhập khẩu, làm thỏa mãn mức độ hài lòng của doanh nghiệp.
Đánh giá của WB tại báo cáo môi trường kinh doanh cho thấy: Liên tục trong 2 năm 2016, 2017, Việt Nam giữ vững vị trí thứ 4 trong 10 nước ASEAN về chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới với thời gian và chi phí đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu đều có sự chuyển biến tích cực so với năm trước.
 
Năm 2016, thời gian giao dịch thương mại qua biên giới (bao gồm thời gian làm các thủ tục tại cửa khẩu và thời gian chuẩn bị hồ sơ) đối với hàng nhập khẩu là 138 giờ, giảm 32 giờ; đối với hàng xuất khẩu là 108 giờ, giảm 32 giờ;
 
Năm 2017-2018, thời gian giao dịch thương mại qua biên giới đối với hàng nhập khẩu là 132 giờ, giảm 6 giờ; đối với hàng xuất khẩu là 105 giờ, giảm 3 giờ (giảm ở thời gian làm thủ tục tại cửa khẩu); Chi phí giao dịch thương mại qua biên giới (bao gồm chi phí làm các thủ tục tại cửa khẩu và chi phí chuẩn bị hồ sơ) đối với hàng nhập khẩu và xuất khẩu đều giảm 19 USD (giảm ở chi phí làm thủ tục tại cửa khẩu).
 
Năm 2018, vị trí xếp hạng của Việt Nam đối với Chỉ số chung về môi trường kinh doang giảm 1 bậc (từ vị trí 68 lên vị trí 69/190 nước); chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới giảm 6 bậc (từ vị trí 94 lên đến vị trí 100/190 nước).
 
Với kết quả này, Tổng cục Hải quan cho rằng, có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.
 
Cụ thể, về nguyên nhân khách quan đối với xếp hạng Chỉ số chung về môi trường kinh doanh: Một số quốc gia châu Phi, Trung Quốc, Ấn Độ, đặc biệt khu vực ASEAN là Malaysia có sự cải thiện vượt bậc về lĩnh vực trong hoạt động kinh doanh dẫn đến sự thay đổi về vị trí xếp hạng chung về môi trường kinh doanh.
 
Đối với xếp hạng Chỉ số thương mại qua biên giới, một số quốc gia có sự cải thiện vượt bậc về hoạt động giao thương hàng hóa qua biên giới như Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, đặc biệt khu vực ASEAN là Malaysia, Lào
 
Malaysia tăng 13 bậc từ vị trí 61 lên vị trí 48/190; nguyên nhân do: Malaysia đã đẩy mạnh hải quan điện tử, quản lý rủi ro và nâng cấp cơ sở vật chất và hệ thống quản lý hoạt động tại cảng biển chính Klang.
 
Lào tăng 48 bậc từ vị trí 124 lên vị trí 76; nguyên nhân theo nhận định của WB là Lào đã đơn giản hóa quy trình thông quan hàng tại cửa khẩu.
 
Ngoài 2 nước trên, 8 nước còn lại trong ASEAN đều bị giảm từ 2 đến 7 bậc trong bảng xếp hạng.
 
Chỉ số này cũng phản ánh nguyên nhân về mặt chủ quan, trong đó, đối với hoạt động hải quan: Việc ứng dụng công nghệ thông tin vẫn chưa phủ tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước về Hải quan; Các hệ thống CNTT được xây dựng, phát triển dựa trên yêu cầu nghiệp vụ qua nhiều giai đoạn và nhiều mục tiêu khác nhau. Đặc thù các văn bản quy phạm pháp luật thường xuyên có sự thay đổi tuy nhiên các thủ tục để trình phê duyệt dự án xây dựng hệ thống CNTT phải trải qua rất nhiều bước, nhiều thủ tục nên mức độ đáp ứng của hệ thống CNTT đôi khi không theo kịp các quy định pháp luật mới.
 
Việc áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro vào trong hoạt động nghiệp vụ hải quan còn một số hạn chế do một số nguyên nhân như: Cơ sở hạ tầng CNTT chưa đồng bộ; công tác lựa chọn soi chiếu vẫn chưa đáp ứng hoàn toàn yêu cầu quản lý; công tác xếp hạng, đánh giá tuân thủ, đánh giá tự động trên hệ thống công nghệ thông tin chưa thực sự sát với tình hình thực tế.
 
Bên cạnh đó, hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành (KTCN) và triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN, dù số lượng thủ tục hành chính triển khai mới đã tăng lên một cách nhanh chóng, riêng năm 2018 đã triển khai mới 101 thủ tục, nâng số thủ tục triển khai thông qua Cơ chế một cửa quốc gia hiện nay lên 148 thủ tục, tăng gấp 2 lần số thủ tục thực hiện trong 4 năm cộng lại (từ 2014 – 2017 mới triển khai được 47 thủ tục). Tuy nhiên, số thủ tục triển khai mới vẫn chưa đáp ứng mục tiêu đề ra theo Kế hoạch hành động của Chính phủ; một số bộ, ngành chậm xây dựng Kế hoạch hành động chi tiết để triển khai.
 
Về KTCN, số lượng hàng hóa phải KTCN còn chiếm tỷ trọng lớn. Văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý và KTCN có phạm vi quản lý và kiểm tra rộng, nhiều mặt hàng chưa có mã số HS, chưa có đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện việc kiểm tra; còn quy định chồng chéo một hàng hóa phải thực hiện cùng lúc nhiều thủ tục, chịu nhiều hình thức quản lý, kiểm tra chuyên ngành do cùng một bộ, ngành.
 
KTCN thực hiện chủ yếu bằng phương thức thủ công, chưa áp dụng rộng rãi phương pháp quản lý rủi ro, việc công nhận kết quả kiểm tra.
 
Kết quả chỉ số cũng phản ánh những hạn chế trong hoạt động kinh doanh kho bãi, logistics và hoạt động khác có liên quan như: Kết cấu hạ tầng giao thông không đồng bộ, thiếu kết nối, thiếu nguồn lực để hiện đại hóa, nâng cao năng lực bốc xếp, giữa các cảng có tình trạng mất cân đối cung cầu… Những hạn chế đó khiến hệ thống cảng, kho bãi chưa phát huy hết năng lực, làm chi phí logistics tăng cao.
 
Một số địa phương có tình trạng số lượng kho, bãi lớn nhưng nằm rải rác, dàn trải, không có định hướng cụ thể nên hiệu quả kinh doanh của không ít kho, bãi không hiệu quả, lượng hàng hóa ít, không tương xứng với nguồn lực đầu tư.
 
Riêng đối với cảng Cát Lái là cảng có lưu lượng hàng hóa XNK lớn nhất cả nước, tuy nhiên hạ tầng thiếu đồng bộ, kết nối; tình trạng kẹt xe kéo dài trong nhiều giờ trên trục đường Đồng Văn Cống (quận 2), Nguyễn Văn Linh (quận 7) đã gây thiệt hại nặng nề cho doanh nghiệp, đẩy chi phí logistics tăng cao.
 
Những nỗ lực của cơ quan Hải quan (Bộ Tài chính) mặc dù đã đem lại những kết quả tích cực, nhưng để nâng cao xếp hạng Chỉ số Giao dịch thươn mại qua biên giới cần có tham gia tích cực, sự nỗ lực, cố gắng của các cơ quan quản lý chuyên ngành; doanh nghiệp kinh doanh kho bãi cảng, doanh nghiệp logicstic và cộng đồng doanh nghiệp nhằm triển khai đồng bộ các giải pháp giảm thời gian và chi phí giao dịch thương mại qua biên giới.
Đang cập nhật

Tin nổi bật