Cổng Dịch vụ công Quốc gia - giá trị đã được chứng minh
(Chinhphu.vn) – Để tăng cường sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong việc sử dụng Cổng Dịch vụ công Quốc gia, sáng 19/5, Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ phối hợp với Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam tổ chức Hội nghị trực tuyến “Giới thiệu Cổng Dịch vụ công Quốc gia và các lợi ích dành cho doanh nghiệp”.
Đồng chí Mai Tiến Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ - Chủ tịch Hội đồng Tư vấn cải cách hành chính của Thủ tướng Chính phủ và ngài Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đồng chủ trì hội nghị.
“Kênh” hữu hiệu nhất để “điện tử hóa” thủ tục hành chính
Phát biểu khai mạc hội nghị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết, để kịp thời ứng phó với đại dịch COVID-19, Chính phủ đã thực hiện chuyển đổi mạnh phương thức làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác chỉ đạo, điều hành và cung cấp dịch vụ công như: Tăng cường làm việc gửi - nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia; chuyển dần từ báo cáo giấy sang báo cáo điện tử thông qua Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ, báo cáo của các bộ, ngành, địa phương; hệ thống thông tin một cửa điện tử, cổng dịch vụ công cấp bộ cấp tỉnh phát huy hiệu quả.
Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, lần đầu tiên ghi nhận giá trị pháp lý của thủ tục trực tuyến, kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử, công nhận hồ sơ ký số của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm bớt các loại hồ sơ giấy cũng như các quy trình giao dịch trực tiếp với cơ quan nhà nước, thúc đẩy giao dịch điện tử, góp phần xây dựng nền kinh tế số.
Do đó có thể thấy, việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử đem lại lợi ích rất lớn cho người dân, doanh nghiệp và Cổng Dịch vụ công Quốc gia là “kênh” hữu hiệu nhất để “điện tử hóa” thủ tục hành chính. Việc thực hiện các thủ tục hành chính thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia còn tạo thêm kênh giám sát, bảo đảm tính minh bạch của các bộ, ngành, địa phương.

Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng phát biểu tại hội nghị
Lan tỏa những thông tin hữu ích
Người dân, doanh nghiệp hoàn toàn có thể theo dõi được quá trình giải quyết thủ tục hành chính, đồng thời, Văn phòng Chính phủ cũng có thể đồng hành đôn đốc, theo dõi và chấn chỉnh kịp thời các vướng mắc, khó khăn trong việc giải quyết.
Được khai trương ngày 9/12/2019, từ 8 nhóm dịch vụ công được cung cấp tại thời điểm khai trương, đến nay trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đã tích hợp, cung cấp 406 dịch vụ công trực tuyến, trong đó có 235 dịch vụ công trực tuyến cho doanh nghiệp.
Qua tài khoản Cổng Dịch vụ công Quốc gia, các doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục tại tất cả các Bộ, ngành, địa phương và thực hiện thanh toán trực tuyến các nghĩa vụ tài chính liên quan. Cùng việc thúc đẩy thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử, ưu điểm rất lớn của việc nộp hồ sơ hoặc thực hiện các thủ tục hành chính thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia là tạo thêm kênh giám sát việc thực hiện, bảo đảm tính minh bạch. Quá trình giải quyết được thông tin tới các doanh nghiệp, đồng thời, Văn phòng Chính phủ cũng đồng hành đôn đốc, theo dõi và chấn chỉnh kịp thời các vướng mắc, khó khăn trong việc giải quyết.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ cho biết, thông qua Hội nghị trực tuyến với cộng đồng doanh nghiệp hôm nay, Văn phòng Chính phủ, Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ cùng các đối tác Ngân hàng Thế giới, Đại sứ quán Australia tại Việt Nam, Cơ quan Phát triển Pháp và các cơ quan liên quan mong muốn lan tỏa được những thông tin hữu ích cho doanh nghiệp. Đồng thời, hội nghị cũng là dịp ghi nhận ý kiến thực tiễn từ cộng đồng doanh nghiệp để cải thiện quá trình cung cấp dịch vụ công trực tuyến và vận hành Cổng Dịch vụ công Quốc gia ngày càng hiệu quả hơn.
Giá trị đã được chứng minh
Phát biểu tại hội nghị, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Ousmane Dione chia sẻ: Chúng ta đang trải qua cuộc khủng hoảng chưa từng có do đại dịch COVID-19 gây ra, khiến quá trình phát triển kinh tế và xã hội trên toàn cầu cũng như Việt Nam bị gián đoạn nghiêm trọng. Để ứng phó và đẩy lùi đại dịch, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính phủ và khu vực tư nhân.
Việt Nam đã phòng chống đại dịch COVID-19 quyết liệt và hiệu quả. Thành công của Việt Nam trong việc kiểm soát đại dịch đã được công nhận và ngợi ca trên toàn cầu. Nhưng bài học kinh nghiệm nổi bật nhất có lẽ là yêu cầu chuyển đổi kỹ thuật số và đáp ứng nhanh các nhu cầu dịch vụ công đặt ra đối với các chính phủ.

Giám đốc quốc gia Ngân hàng thế giới tại Việt Nam Ousmane Dione
Theo đại diện WB: Giá trị của Cổng dịch vụ công quốc gia đã được chứng minh trong thời gian diễn ra đại dịch COVID-19 vừa rồi. Với các biện pháp giãn cách xã hội được đưa ra nhằm ngăn chặn lây nhiễm, người sử dụng dịch vụ và cán bộ cơ quan nhà nước có thể truy cập và cung cấp các dịch vụ công thiết yếu bằng phương thức trực tuyến, để bảo vệ người dân, doanh nghiệp và cán bộ cơ quan nhà nước.
“Chúng ta đặc biệt vui mừng khi nghe về sự phát triển của Cổng dịch vụ công quốc gia kể từ thời điểm khai trương cách đây 5 tháng, với hơn 35 triệu lượt truy cập, hàng trăm dịch vụ được cung cấp cho người dân và doanh nghiệp thông qua cổng thông tin cũng như lượng thông tin và phản hồi được khởi tạo” Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Ousmane Dione bày tỏ.
Theo đại diện WB, Chính phủ đã huy động nhiều biện pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp trong đại dịch, như được minh chứng rõ ràng tại Hội nghị quốc gia về các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn trong COVID-19 do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì vào ngày 9/5. Hội nghị hôm nay cho thấy một nỗ lực khác của Chính phủ để tiếp tục thúc đẩy cải cách chính phủ điện tử cũng như đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua đại dịch.
Hãy tham gia Cổng dịch vụ công ngay hôm nay
Đại diện WB cũng đề xuất ba biện pháp hành động, một cho cộng đồng doanh nghiệp và hai cho Chính phủ để tăng cường tác động của các chính sách đổi mới kỹ thuật số trong thời gian sắp tới.
Thứ nhất, cộng đồng doanh nghiệp cần đẩy mạnh quá trình số hóa. COVID-19 cũng có thể coi là một hồi chuông nhắc nhở đối với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Đảm bảo kinh doanh liên tục trong thời đại hiện nay gần như là bất khả thi nếu không có công nghệ phù hợp, trong đó các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến chịu ảnh hưởng vì sự gián đoạn ít nghiêm trọng hơn so với các doanh nghiệp kinh doanh thông thường như chúng ta đã chứng kiến trong cuộc khủng hoảng.
Một nghiên cứu được thực hiện tại Singapore năm 2019 cho thấy việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số như thương mại điện tử, thanh toán điện tử, trí tuệ nhân tạo/ phân tích dữ liệu lớn có thể làm tăng năng suất và giá trị gia tăng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ lần lượt là 26% và 17%.
Từ góc độ kinh tế vĩ mô, việc số hóa doanh nghiệp cũng có thể giúp tăng cường hoạt động kinh tế của một quốc gia. Theo ước tính, việc số hóa các doanh nghiệp nhỏ và vừa của ASEAN có thể tạo ra thêm 1,1 nghìn tỷ đô la giá trị GDP trên toàn khu vực vào năm 2025.
“Đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn có thể bắt đầu quá trình số hóa bằng cách sử dụng các dịch vụ được cung cấp qua Cổng dịch vụ công quốc gia từ hôm nay” – Giám đốc WB nói.
Tối ưu hóa các quy trình nghiệp vụ
Về phía Chính phủ, đại diện WB đề xuất, việc triển khai dịch vụ công trực tuyến nên bắt đầu từ việc đơn giản hóa các quy trình kinh doanh. Bởi cho dù có bao nhiêu dịch vụ được cung cấp trực tuyến chăng nữa, mà nếu những dịch vụ đó không giúp làm giảm thời gian và chi phí giao dịch cho doanh nghiệp thì cũng không mang lại nhiều ý nghĩa đối với họ.
Do đó, điều quan trọng là Chính phủ hiểu rõ những lĩnh vực làm phát sinh nhiều thời gian và chi phí trong toàn bộ chuỗi cung ứng dịch vụ để tối ưu hóa các quy trình nghiệp vụ.
Dữ liệu và thông tin được khởi tạo và thu thập thông qua Cổng thông tin, chẳng hạn như chi tiết giao dịch trực tuyến và phản hồi, sẽ là điểm khởi đầu tuyệt vời để Chính phủ phân tích các lĩnh vực còn vướng mắc và giải pháp để gỡ bỏ rào cản cho doanh nghiệp trong quy trình hiện tại.
Các cơ sở dữ liệu khác, chẳng hạn như đăng ký kinh doanh, cấp phép đầu tư, giấy phép xây dựng, nộp thuế cũng sẽ là những điểm định hướng hữu ích nếu được phân tích nhằm tối ưu hóa dịch vụ công trực tuyến.
Đại diện WB cho rằng, Chính phủ có thể đóng vai trò là nền tảng khởi động để hỗ trợ khu vực tư nhân phát triển kỹ thuật số nhanh chóng hơn.
|
Được khai trương từ ngày 9/12/2019, đến nay, Cổng Dịch vụ công Quốc gia đã có những kết quả tích cực, thể hiện được mục tiêu Chính phủ phục vụ người dân, doanh nghiệp, cụ thể đã có trên 140.000 tài khoản đăng ký, trên 35 triệu lượt truy cập, trên 7,3 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái, trên 68.000 hồ sơ được thực hiện qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Hệ thống cũng tiếp nhận hỗ trợ trên 11.000 cuộc gọi; tiếp nhận trên 5.600 phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp; đã tích hợp được 395 dịch vụ công trực tuyến lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia trong đó có 232 dịch vụ công dành cho doanh nghiệp. Tổng chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến là khoảng 6.490 tỷ đồng/năm, trong đó, riêng Cổng Dịch vụ công Quốc gia đóng góp 3.036 tỷ đồng/năm. Theo báo cáo của Văn phòng Chính phủ, sau 6 tháng triển khai Cổng Dịch vụ công Quốc gia, từ 8 nhóm dịch vụ ban đầu, đến nay đã tăng lên 389 dịch vụ công trực tuyến (160 cho công dân, 229 cho doanh nghiệp); cung cấp chức năng thanh toán trực truyến để người dân, doanh nghiệp nộp các nghĩa vụ tài chính liên quan, nhiều dịch vụ công được doanh nghiệp quan tâm thực hiện như thông báo hoạt động khuyến mại, cấp điện, nộp thuế, phí, lệ phí, kê khai, nộp thuế điện tử, đề nghị gia hạn thuế... Một số nhóm thủ tục hành chính có tần suất thực hiện lớn đã được tích hợp lên cổng và phục vụ hiệu quả cho doanh nghiệp như: Nhóm thủ tục về đăng kí/thông báo khuyến mãi của doanh nghiệp; nhóm thủ tục xin cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O); nộp phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông; một số thủ tục mảng bảo hiểm, thuế…và nhiều thủ tục cụ thể khác. Trường hợp doanh nghiệp cần thực hiện 1 thủ tục cùng lúc ở nhiều địa phương (ví dụ thủ tục thông báo khuyến mãi), thay vì phải làm với từng nơi, doanh nghiệp có thể gửi một lần cho nhiều địa phương thông qua hệ thống này. Bắt đầu từ ngày 12/5, Cổng Dịch vụ công Quốc gia cung cấp thêm 6 dịch vụ công hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch COVID-19. Theo đó, 6 dịch vụ công được cung cấp là: Hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương; Hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc đối với người lao động; Kê khai gia hạn nộp thuế doanh nghiệp; Kê khai gia hạn nộp thuế cá nhân; Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí tử tuất; Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị trong thực hiện hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch COVID-19. |
Vận tải biển lên kịch bản phục hồi hậu Covid-19
Dù thị trường hàng hóa vẫn đang chịu tác động nặng bởi dịch Covid-19, song lĩnh vực vận tải biển đã “dễ thở” hơn.
Các doanh nghiệp (DN) vận tải biển đều kỳ vọng đến tháng 6/2020, dịch Covid-19 tại các quốc gia sẽ được kiểm soát giúp thị trường hàng hóa có thể phục hồi trong những tháng cuối năm.

Thị trường vận tải vẫn “vui ít, buồn nhiều”
Ông Bùi Việt Hoài, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Vận tải biển Việt Nam (Vosco) chia sẻ, tháng 5/2020, dù thị trường hàng hóa vẫn đang chịu tác động nặng bởi dịch Covid-19, song lĩnh vực vận tải biển đã “dễ thở” hơn. “Một trong ba trung tâm hàng hóa lớn của thế giới là Trung Quốc đã bỏ lệnh phong tỏa, đội tàu của Vosco có thể hoạt động vận chuyển các mặt hàng: Quặng, than trở lại”, ông Hoài nói.
Gần đây, giá dầu giảm sâu cũng là yếu tố tích cực giúp hãng tàu giảm bớt chi phí nhiên liệu, nhất là trong bối cảnh hàng hóa khan hiếm, các hãng vận tải phải sử dụng nhiên liệu hàm lượng lưu huỳnh 0,5% (giá cao hơn dầu FO cũ) theo quy định của Tổ chức Hàng hải thế giới. “Ước tính, giá dầu giảm giúp các tàu container, tàu dầu tiết kiệm được khoảng 20% và tàu hàng khô nhiên liệu cũng giảm được 10 - 15% chi phí nhiên liệu”, ông Hoài thông tin.
Tuy vậy, theo ông Hoài, giá cước vận chuyển hàng hóa vẫn trên đà lao dốc. Đơn cử, mặt hàng quặng, nếu tháng 12/2019, doanh thu một tàu chở quặng khoảng 8.000 - 9.000 USD/ngày, đến bây giờ chỉ còn 3.000 - 4.000 USD/ngày.
Còn theo ông Phạm Văn Khoa, Trưởng phòng Khai thác Công ty Vận tải biển Vinalines, nếu thời điểm dịch Covid-19 chưa diễn ra, giá cước hàng clinker từ Việt Nam đi Trung Quốc khoảng 8 - 10 USD/tấn (tùy từng cảng) thì hiện giảm xuống chỉ còn 5 - 7 USD/tấn. Hàng xi măng bao đi Philippines, đầu năm 2020, giá cước khoảng 11 USD/tấn, hiện là 7 USD/tấn.
Đối với vận tải biển trong nước, ông Vũ Đức Ngọ, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và vận tải Vũ Gia Tam cho biết, từ tháng 4/2020, các tàu nội địa bắt đầu “thấm đòn” Covid-19. Nếu thời điểm trước dịch, cước vận chuyển clinker từ Hải Phòng đi Sài Gòn khoảng 190.000 - 200.000 đồng/tấn, lúc dịch mới bùng phát là 185.000 đồng/tấn, hiện tại chỉ còn 170.000 đồng/tấn.
“Đội tàu chạy tuyến quốc tế mất việc trở về thị trường nội địa, tranh giành các mối hàng nên khối lượng than vận chuyển của tàu biển nội địa và tàu VR-SB giảm mạnh. Dự báo, 1 - 2 tháng tới, lượng hàng than từ khu vực Quảng Ninh vào Sài Gòn, Đồng Nai, các tỉnh miền Trung sẽ giảm khoảng 30 - 40% so với thời điểm trước dịch”, ông Ngọ nói.
Trước thực trạng trên, ông Ngọ bày tỏ lo lắng khi 5 tàu của đơn vị trong 3 tháng đầu năm vẫn duy trì hoạt động 3 - 4 chuyến/tháng, song lượng hàng sụt giảm nên có thể một nửa trong số đó phải nằm nghỉ. Công suất hoạt động tàu lại quay về mức 50 - 60% như thời gian chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế năm 2008.
Chờ cơ hội
Nhận định về khả năng phục hồi của thị trường vận tải biển trong năm 2020, ông Bùi Việt Hoài kỳ vọng, đại dịch Covid-19 sẽ được các nước khống chế thành công trước tháng 6/2020. “Nếu dịch được kiểm soát trong tháng 6, hoạt động sản xuất, thông thương hàng hóa tại các nước sẽ dần phục hồi sau 1 - 2 tháng tiếp theo. Khi ấy, đội tàu vận tải sẽ có được lượng hàng chuyên chở tương đối lớn để “hồi sinh”.
Trong đó, khu vực Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) sẽ là “mảnh đất vàng” đối với các DN vận tải biển. Tuyến vận tải này không chỉ đa dạng các mặt hàng xuất nhập khẩu sang Việt Nam như: Phân bón, sắt thép, thiết bị điện tử… tạo sức bật lớn về nhu cầu vận chuyển sau dịch mà còn là tuyến đội tàu Việt Nam có thể vận chuyển hàng hóa được hai chiều với giá cước hấp dẫn”, ông Hoài chia sẻ.
Nếu dịch kéo dài sang giai đoạn nửa năm còn lại, lãnh đạo Vosco bày tỏ sự lo ngại, các DN vận tải biển sẽ lại hoạt động “lay lắt”, cầm chừng. “Vosco mong muốn sẽ được ngân hàng thương mại cho khoanh nợ, xóa lãi năm 2020, không tính lãi phạt, cơ cấu kéo dài thời gian trả nợ gốc”, ông Hoài nói.
Về thị trường nội địa, ông Bùi Văn Năm, Thư ký Hiệp hội Vận tải đoàn kết An Lư (Hải Phòng) cho rằng, cơ hội để đội tàu trong nước phục hồi phải đến từ hai yếu tố: Các công trình xây dựng trở lại hoạt động bình thường, gia tăng nhu cầu vận chuyển nguyên, vật liệu và thị trường vận tải khu vực Đông Nam Á sôi động trở lại để đội tàu Việt Nam hoạt động tuyến quốc tế tải trọng lớn (10.000 - 20.000 DWT) không trở về thị trường nội địa gây áp lực cho đội tàu biển hạn chế 3 và tàu VR-SB.
Ông Năm cũng kiến nghị Chính phủ giao các bộ, ngành nghiên cứu giảm thuế giá trị gia tăng cho DN vận tải biển nội địa xuống 5% thay vì 10% như thời điểm hiện tại.
Trong khi đó, ông Vũ Đức Ngọ đề xuất thời gian tới, cơ quan chức năng sẽ chỉ đạo các ngân hàng thương mại có chính sách hỗ trợ đối với DN vận tải biển nội địa có lý lịch trả nợ tốt, giảm lãi suất gói vay trung hạn (3 - 4 năm) từ khoảng 11,7%/năm xuống còn 9 - 10%/năm, giúp DN cân đối tài chính, vừa thanh toán nợ, vừa duy trì hoạt động.
Link gốc bài viết: https://www.baogiaothong.vn/van-tai-bien-len-kich-ban-phuc-hoi-hau-covid-19-d465586.html
Đa dạng hóa chuỗi cung ứng: Không hoang phí nỗ lực đàm phán
(TBKTSG) - Indonesia đã công bố tin “chấn động” giới đầu tư và tài chính khu vực: Tổng thống Mỹ Donald Trump quyết định bước đầu chuyển 27 nhà máy từ Trung Quốc sang Indonesia ngay sau cuộc điện đàm với Tổng thống Indonesia Joko Widodo bàn về hợp tác giữa hai nước trong và sau đại dịch Covid-19. Việt Nam đã đa dạng hóa chuỗi cung ứng bằng một chiến lược toàn diện về ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA), hiện nay là thời điểm để cải thiện chất lượng cho việc đa dạng hóa đó để cạnh tranh thu hút đầu tư, với Indonesia chẳng hạn.
Dịch chuyển chuỗi cung ứng: thiên thời - địa lợi và thiên tai - rủi ro
Ít người nhận ra rằng, chuỗi cung ứng đã dịch chuyển bởi tác động của hai nhóm yếu tố (i) những gì ý chí không thay đổi được và (ii) những chính sách do ý chí tác động.
Về mặt chính sách mang tính ý chí, dưới thời Tổng thống Donald Trump, nước Mỹ đã sử dụng bốn công cụ chính sách quan trọng (gồm cả thuế quan và phi thuế quan) để “đưa các công ty Mỹ ra khỏi Trung Quốc”. Đây là một chiến lược dài hạn và được tiến hành với nhiều cấp độ. Không thể phủ nhận rằng, ý tưởng có vẻ “lạ đời” đó đang ngày càng trở thành hiện thực trước hết bởi các chính sách của Mỹ trong cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, và sau đó, bị thúc đẩy bởi đại dịch toàn cầu Covid-19.
Sau hai năm thương chiến, thuế quan trung bình Mỹ áp lên hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng từ 3,1% lên 19,3%. Với mức thuế này, các công ty đặt ở Trung Quốc muốn tăng xuất khẩu sang Mỹ sẽ phải tính đến việc chuyển bớt công suất sản xuất ra khỏi Trung Quốc.

| Sự thay đổi của công nghệ cũng tạo ra một thời cơ cho việc tổ chức lại chuỗi cung ứng theo hướng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững hơn. Nhưng điều này cũng hàm ý rằng, các nước không kịp thay đổi với bước tiến công nghệ hoặc duy trì các chính sách quá bảo thủ sẽ nhanh chóng bị bỏ lại trên đường đua. |
Nhưng chuỗi cung ứng còn dịch chuyển nhanh bởi “thiên tai”. Thiên tai đáng chú ý nhất, hiển nhiên là đại dịch Covid-19 khiến hoạt động sản xuất tại Trung Quốc tê liệt trong suốt hai tháng đầu năm 2020. 14 tỉnh và thành phố bị phong tỏa trong đợt dịch đóng góp 69% GDP cũng như 78% xuất khẩu của Trung Quốc vào tháng 12-2019. Ba nhóm doanh nghiệp có liên quan trực tiếp đến chuỗi cung ứng chiếm tới 66,14% tổng số doanh nghiệp của vùng dịch bệnh. Điều này, đi kèm với nhiều chính sách mang tính chính trị của Trung Quốc, như hạn chế xuất khẩu vật tư y tế, khiến nhu cầu đảm bảo “an ninh nguồn cung” trở nên bức thiết hơn.
Ngoài yếu tố mang tính bị động đó, sự thay đổi của công nghệ cũng tạo ra một thời cơ cho việc tổ chức lại chuỗi cung ứng theo hướng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững hơn. Nhưng điều này cũng hàm ý rằng, các nước không kịp thay đổi với bước tiến công nghệ hoặc duy trì các chính sách quá bảo thủ sẽ nhanh chóng bị bỏ lại trên đường đua.
Bản chất của chuỗi cung ứng là sự phân công lao động dựa trên lợi thế của mỗi nước. Phải mất nhiều thập kỷ để xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hiện tại, với lực lượng lao động khổng lồ và cơ sở hạ tầng vượt trội như Trung Quốc. Nên không quốc gia nào có thể thay thế hoàn toàn hoặc chóng vánh trong khả năng ấy. Nhưng các yếu tố nêu trên đang tạo ra một cơ hội cho Việt Nam khi các nước Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đang thúc đẩy một sáng kiến hợp tác mới.
Việt Nam cần nâng cao chất lượng của việc đa dạng hóa nguồn cung
Chuỗi cung ứng được định hình bởi phần cứng là các doanh nghiệp - những chủ thể tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và sản xuất, nhưng một phần mềm vô cùng quan trọng giúp xác định chuỗi cung ứng thực sự thế nào chính là thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan đến thương mại hàng hóa và đầu tư. Mỗi một FTA không chỉ là cánh cổng để các doanh nghiệp xuất khẩu tìm đến các thị trường dễ dàng hơn, mà còn là một cánh cổng sàng lọc các nguồn cung đầu vào.
Do đó, tiếp cận về đa dạng hóa nguồn cung không chỉ cần từ góc độ “phần cứng” là sự sắp xếp lại của các nhà máy, công ty theo phạm vi địa lý mà còn cần theo dõi cả sự dịch chuyển của “phần mềm”, đó chính là các quy định vượt ra ngoài phạm vi địa lý giữa các quốc gia với nhau để đạt được các ưu đãi đã ký kết. Ở khía cạnh này, Việt Nam trên thực tế đã thực hiện đa dạng hóa nguồn cung sớm hơn nhiều so với các nước Đông Nam Á. Chúng ta có FTA với các nền kinh tế Á - Âu do Nga dẫn đầu (FTA này giúp đa dạng hóa chuỗi cung ứng về sắt thép); chúng ta có FTA với Liên minh châu Âu (EU) hay Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), nơi mà quy định xuất xứ nguồn cung hạn chế rất nhiều việc phụ thuộc vào nguồn cung Trung Quốc.
Vì sao Việt Nam đã sẵn sàng để tham gia đa dạng hóa chuỗi ứng khu vực?
Như đã nêu ở trên, đối với Việt Nam, việc tham gia vào chuỗi cung ứng mở rộng tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đứng trước rất nhiều thuận lợi.
Thứ nhất, Việt Nam đã có sẵn các FTA với tất cả các đối tác trong nhóm này. Việc tham gia vào lời mời hay không trên thực tế chỉ là đồng ý làm một việc mà các doanh nghiệp đa quốc gia và cả doanh nghiệp Việt Nam đã tự động làm sau khi Việt Nam ký hàng loạt FTA - đầu tư và chuyển chuỗi sản xuất đến Việt Nam để tận dụng ưu đãi thuế quan. Nhìn vào sơ đồ “bộ tứ kim cương mở rộng", nếu bỏ Mỹ, Ấn Độ và Hàn Quốc ra thì sẽ có các thành viên của CPTPP, nếu bỏ Mỹ và Ấn Độ chúng ta sẽ có các thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Với Hàn Quốc và Nhật Bản thì Việt Nam thậm chí còn có bốn FTA (hai song phương và hai đa phương trong khung khổ của ASEAN). Với Úc và New Zealand, chúng ta cũng đã có một FTA đa phương.
Như vậy, về mặt đầu tư và ưu đãi thuế quan - điều mà các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu khi lựa chọn địa điểm đặt nhà xưởng - Việt Nam hoàn toàn không cần chuẩn bị gì thêm và có lợi hơn so với tất cả các nước Đông Nam Á khác. Đây là một điều kiện vàng mà Việt Nam đã chuẩn bị được. Và tuyệt nhiên không nên hoang phí.
Thứ hai, so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, chỉ có Singapore có thể so sánh với Việt Nam về mức độ tham vọng trong chính sách ngoại thương, và cũng chỉ có quốc gia này so sánh được với Việt Nam về việc có các FTA chất lượng cao, thế hệ mới. Do đó, việc tham gia vào chuỗi cung ứng mới nhằm đa dạng hóa nguồn cung sẽ không gây nhiều khó khăn cho Việt Nam trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn liên quan đến sản xuất và xuất xứ hàng hóa.
Thứ ba, tham gia chuỗi cung ứng này là một cơ hội để thúc đẩy tiến tới ký một FTA song phương với Mỹ - điều mà quy mô thương mại cũng như nhu cầu hợp tác giữa hai bên đã tạo ra các cơ hội ngày càng rõ nét.
Thứ tư, việc tham gia vào một hoạt động kinh tế phục vụ doanh nghiệp với cách làm “theo dự án” (project-base) giúp Việt Nam hạn chế rất nhiều các vấn đề mang tính nhạy cảm về chính trị hoặc đối ngoại. Việt Nam không cần phải ký kết bất kỳ bản ghi nhớ, thỏa thuận hay hiệp định. Chúng ta chỉ cần tạo điều kiện thuận lợi về chính sách để doanh nghiệp tận dụng đầy đủ các FTA đã ký kết hoặc sắp có hiệu lực. Việt Nam có thể bỏ qua những “dèm pha” của các nước khác để làm điều có lợi cho mình.
Để tham gia vào các sáng kiến về đa dạng hóa nguồn cung, Việt Nam trước mắt cần tập trung vào hai việc. Thứ nhất là có một chỉ đạo đủ mạnh để điều phối quan hệ giữa các bộ ngành, ban hành được các chính sách nhất quán với nhau. Thứ hai, rà soát văn bản chính sách, loại bỏ các quy định không phù hợp với các cam kết FTA, tăng cường đẩy mạnh tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp Mỹ.
TS. Phạm Sỹ Thành
Link gốc bài viết: https://www.thesaigontimes.vn/303770/da-dang-hoa-chuoi-cung-ung-khong-hoang-phi-no-luc-dam-phan.html
Chủ tịch VLA: Kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi và phát triển
(VLR) Trước diễn biến của dịch COVID-19, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) - ông Lê Duy Hiệp đã kịp thời thông tin chia sẻ về những vấn đề mà ngành logistics đang gặp phải. Ông Lê Duy Hiệp tin vào sự hồi phục và phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình hồi phục và phát triển này, ngoài sự cố gắng của bản thân mỗi doanh nghiệp, rất cần những chính sách hỗ trợ kịp thời từ phía Nhà nước.

Ông nhận định như thế nào về mức độ ảnh hưởng của dịch COVID-19 đến hoạt động ngành logistics nói riêng và nền kinh Việt Nam nói chung? Hiện nay, doanh nghiệp logistics đang gặp phải những khó khăn nào, thưa ông?
Đại dịch COVID-19 bùng nổ từ cuối tháng 01/2020 đã tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các nền kinh tế toàn cầu, làm gãy, đảo lộn hệ thống cung ứng toàn cầu, trong đó có hoạt động logistics.
Theo khảo sát của VLA, 20% - 50% hoạt động của các Hội viên bị ảnh hưởng (giảm về hoạt động và doanh thu) tùy theo loại hình dịch vụ cung cấp. Dịch vụ logistics hàng không, đường bộ và đường sắt bị ảnh hưởng nhiều nhất, đặc biệt trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội. Có đến 80% Hội viên VLA là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên nhiều doanh nghiệp bị đình trệ sản xuất và một số doanh nghiệp có thể sẽ phải giải thể nếu đại dịch kéo dài một thời gian nữa. Đại dịch đã cho chúng ta thấy, không nên quá phụ thuộc vào một vài nền kinh tế hàng đầu thế giới trong chuỗi cung ứng, theo đó hoạt động logistics bị tác động theo.
Kinh tế Việt Nam đang gặp khó khăn khi tăng trưởng GDP quý I/2020 chỉ đạt 3,82%, mức thấp nhất trong giai đoạn 10 năm qua (2011 - 2020); Áp lực lạm phát vẫn cao, dù nhiều nhóm hàng hóa giảm giá; Xuất siêu tăng gần 4 tỷ USD, chủ yếu là khu vực FDI, song xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn, quý I/2020 chỉ đạt 122,73 tỷ USD; Vốn FDI suy giảm. Tiếp theo sự ngưng trệ thương mại với Trung Quốc là với các nước khác do đại dịch COVID-19 lan truyền cả thế giới. Từ đó đối tượng phục vụ chủ yếu của dịch vụ logistics là sản xuất và xuất nhập khẩu giảm sút đáng kể làm cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics gặp nhiều khó khăn, khó khăn về tài chính thanh khoản và việc làm của người lao động.
Được biết, thời gian qua, VLA đã có nhiều công văn gửi các Bộ, ngành nhằm kiến nghị nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi COVID-19, đặc biệt là công văn số 14/VP-HH gửi tới Thủ tướng Chính phủ ngày 11/3. Vậy các doanh nghiệp hiện nay đã tiếp cận các chương trình hỗ trợ của Chính phủ như thế nào, thưa ông?
Trước những khó khăn của doanh nghiệp, Hiệp hội đã kịp thời khảo sát, lấy ý kiến của các Hội viên để kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh các quyết sách chung về tài khóa và tài chính của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ mà mọi doanh nghiệp đang được hưởng lợi như vấn đề giảm giá điện, giá xăng dầu,… thì một số kiến nghị riêng cho ngành logistics đã được các Bộ, ngành liên quan xem xét giải quyết. Tuy nhiên, các vấn đề về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, vay vốn ngân hàng, giảm chi phí cho vận tải… doanh nghiệp chưa thực sự được tiếp cận hoặc giải quyết. Nhà nước cần có những giải pháp quyết liệt hơn để kịp thời giúp doanh nghiệp dịch vụ logistics vượt qua khó khăn để tồn tại và phát triển khi đại dịch kết thúc.
Bất kỳ chính sách nào của Chính phủ đã đưa ra lúc này đều quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp, nhưng hữu ích nhất đối với doanh nghiệp dịch vụ logistics là giảm và hoãn các loại thuế, giảm lãi suất vay, cắt giảm các loại phí tác động mạnh đến sự gia tăng của chi phí logistics cho toàn nền kinh tế và đời sống xã hội.

Hiện nay, Việt Nam đang kiểm soát khá tốt dịch bệnh, trong giai đoạn tới, doanh nghiệp phải chuẩn bị kế hoạch khôi phục và phát triển kinh doanh hậu COVID-19. Theo ông, các doanh nghiệp logistics cần phải chuẩn bị, thực hiện những gì để tạo đà thúc đẩy phát triển kinh doanh trở lại?
Nhìn ở góc độ khách quan, đại dịch COVID-19 cũng là một cơ hội để các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics nắm bắt cơ hội trong thách thức. Các doanh nghiệp Hội viên cần xem xét lại chiến lược hoạt động, đa dạng hóa thị trường cung cấp dịch vụ, cải tổ bộ máy hoạt động, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh và cắt giảm chi phí nhằm tối đa hóa hiệu quả hoạt động kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp phải nhanh chóng xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh với các chỉ tiêu và biện pháp thực hiện cụ thể trong đó tập trung vào việc huy động vốn kinh doanh, mở rộng sản xuất, hợp tác liên kết trong và ngoài nước để mở rộng thị trường cung cấp dịch vụ…
Khủng hoảng cũng là lúc thị trường sàng lọc các doanh nghiệp theo cơ chế thuận tự nhiên, do đó, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics cần biết nắm bắt cơ hội để có thể tìm ra con đường hợp tác, khôi phục vượt qua khủng hoảng. Thuận lợi trước mắt là vị thế địa chính trị của Việt Nam, nhất là sau thắng lợi của việc chống đại dịch COVID-19, là việc thực thi EVFTA, CPTPP tạo ra sự phát triển của hàng hóa xuất nhập khẩu và đón dòng vốn đầu tư chuyển dịch từ thị trường Trung Quốc của Mỹ, Nhật Bản và các nước EU.
Dự báo về thời gian, khả năng, tốc độ phục hồi của ngành dịch vụ vận tải, logistics trong thời gian tới, ông có ý kiến thế nào về các vấn đề này?
Vừa qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng cộng đồng doanh nghiệp vẫn đồng lòng, cùng các cơ quan chức năng chấp hành nghiêm các biện pháp phòng chống, dịch. Hiện nay, dịch bệnh đang được kiểm soát tốt, kinh tế sẽ từng bước được phục hồi và phát triển trở lại. Hoạt động xuất nhập khẩu được dự báo sẽ phát triển mạnh khi các bạn hàng của Việt Nam khôi phục và phát triển kinh tế, thương mại. Đầu tư trực tiếp vào Việt Nam cũng sẽ gia tăng khi các nước công nghiệp sẽ chuyển dịch đầu tư vào Việt Nam và các hiệp định thương mại tự do, nhất là CPTPP và EVFTA được thực thi. Theo đó, ngành dịch vụ vận tải, logistics của chúng ta sẽ phục hồi nhanh và phát triển mạnh mẽ hơn thời gian trước đại dịch COVID-19. Đó là hy vọng của tôi.
Xin cảm ơn ông!
Quang Anh
Link gốc bài viết: http://vlr.vn/logistics/chu-tich-vla-kinh-te-viet-nam-se-phuc-hoi-va-phat-trien-6096.vlr
Những bài học từ tranh chấp về giao nhận, vận tải
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các Bên có thể thỏa thuận thay đổi những điều khoản đã ký kết nhưng không biết có phải làm phụ lục hợp đồng hay không. Doanh nghiệp có thể làm giúp dịch vụ cho nhau nhưng không biết đó là nghĩa vụ hay sự giúp đỡ ngoài hợp đồng; hoặc khi đòi nợ, có thể làm khác với quy định của hợp đồng về các loại và nội dung chứng từ hay không? Không xem xét kỹ Điều kiện kinh doanh chuẩn (Standard Trading Conditions) của các doanh nghiệp dịch vụ logistics (được ghi rõ trên chứng từ khi giao dịch) có thể sẽ gặp bất lợi trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Tóm tắt vụ tranh chấp
Một công ty kinh doanh dịch vụ logistics (Nguyên đơn) ký Hợp đồng vận chuyển hàng hóa (Hợp đồng) với một công ty xuất nhập khẩu (Bị đơn) để vận chuyển thiết bị, máy móc đóng trong container bằng đường biển và đường bộ từ một cảng biển ở châu Âu về nhà máy của Bị đơn tại Quảng Ninh (Nhà máy). Trước và sau khi ký Hợp đồng, Bị đơn đều gửi email yêu cầu Nguyên đơn báo giá vận chuyển từ cảng biển nêu trên về Nhà máy. Nguyên đơn đã báo giá vận chuyển đường biển từ cảng bốc hàng đến cảng Hải Phòng (bãi container - CY) và Bị đơn đã chấp nhận báo giá mà không có ý kiến gì.
Hai Bên ký Phụ lục hợp đồng ghi rõ số lượng hàng của chuyến thứ nhất là 03 container và giá cước, phụ phí, phí vận chuyển đường bộ từ Hải Phòng về Nhà máy, phí thủ tục hải quan. Hai Bên giao dịch để vận chuyển toàn bộ 13 lô hàng theo cách: Bị đơn hỏi giá (enquiries) và Nguyên đơn báo giá (quotations). Nội dung 13 bản báo giá đều ghi rõ vận chuyển từ cảng bốc hàng về cảng Hải Phòng và đều được Bị đơn chấp nhận hoàn toàn. Sau khi vận chuyển xong 13 lô hàng, sau nhiều lần yêu cầu thanh toán cước vận chuyển và các chi phí dịch vụ hải quan là 2.168.382.175 VNĐ và tiền lãi chậm thanh toán 197.187.653 VNĐ nhưng Bị đơn chỉ trả 544.820.950 VNĐ cho lô 1, 2 và 3, chưa trả 10 lô còn lại nên Nguyên đơn đã kiện Bị đơn tại Trọng tài đòi số tiền còn lại là 1.623.561.225 VNĐ và tiền lãi do trả chậm là 197.187.653 VNĐ.
Phân tích của hội đồng trọng tài và bài học kinh nghiệm
Bị đơn cho rằng, Hợp đồng và Phụ lục Hợp đồng không áp dụng cho cả 13 lô hàng mà chỉ áp dụng cho lô hàng nói trong Phụ lục, nghĩa là chỉ cho 3 container lô thứ nhất; với các lô hàng khác thì phải ký hợp đồng mới mặc dù Bị đơn đã chấp nhận toàn bộ 13 bản báo giá. Thực tế là Bị đơn đã trả cho Nguyên đơn 544.820.950 VNĐ là tiền cước vận chuyển quốc tế và phí dịch vụ hải quan của lô thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Bằng hành động này, Bị đơn đã thừa nhận Hợp đồng và Phụ lục áp dụng cho cả những lô tiếp theo lô thứ nhất. Căn cứ vào khoản 2 Điều 408 của Bộ luật Dân sự 2005 thì 13 bản báo giá (chỉ báo giá vận chuyển đường biển) mà Bị đơn chấp nhận hoàn toàn được coi là phụ lục của Hợp đồng.
Bị đơn cho rằng, Nguyên đơn phải vận chuyển hàng bằng đường biển và đường bộ về đến nhà máy theo Hợp đồng quy định nên không thanh toán chặng đường bộ. Thực tế là Bị đơn đã thuê đơn vị khác vận chuyển bằng đường bộ về nhà máy mặc dù có hỏi giá Nguyên đơn. Như vậy, theo khoản 2 Điều 408 Bộ luật Dân sự 2005, dịch vụ vận chuyển đường bộ đã được hai Bên đồng thuận sửa đổi so với Hợp đồng cũng như Phụ lục. Bị đơn không có khiếu nại về hư hỏng, mất mát và chậm trễ của 13 lô hàng sau khi về cảng Hải Phòng. Do đó, theo Điều 96 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005, Bị đơn đã nhận đúng và đủ 13 lô hàng nên không có cơ sở để từ chối thanh toán tiền cước vận chuyển đường biển cùng phí dịch vụ còn lại.
Bị đơn cho rằng, chưa ký biên bản nghiệm thu, đối chiếu công nợ cho từng tháng nên không phát sinh tiền phạt trả chậm. Theo Điều 4 của Hợp đồng, hàng tháng, Nguyên đơn phải gửi chứng từ thanh toán và tiền phạt trả chậm nhưng Nguyên đơn chỉ có Giấy ghi nợ từng chuyến, không có số tiền phạt trả chậm và chưa được Bị đơn xác nhận. Nguyên đơn chỉ có 03 công văn yêu cầu trả tiền cước của 13 lô hàng và bảng kê tổng số nợ là 2.168.382.175 VNĐ. Tuy vậy, trước đó Bị đơn đã trả Nguyên đơn 544.820.950 VNĐ nên số tiền nợ chỉ còn 1.623.561.225 VNĐ. Từ đó, Hội đồng trọng tài (HĐTT) cho rằng, Nguyên đơn không có đủ tài liệu đòi thanh toán 197.187.653 VNĐ tiền phạt theo khoản 2 Điều 6 Hợp đồng.
Bị đơn cho rằng đã ủy quyền cho Nguyên đơn làm Đại lý làm thủ tục hải quan, đăng ký danh mục hàng nhập khẩu nhưng không có chứng cứ về việc ủy quyền này. Trong 13 báo giá, Nguyên đơn chỉ báo phí làm dịch vụ hải quan, không làm Đại lý làm thủ tục hải quan. Theo khoản 7 Điều 4 Luật Hải quan năm 2005 và khoản 1 Điều 2 Thông tư số 80/2011/TT-BTC ngày 09/06/2011, nếu Nguyên đơn được ủy quyền làm Đại lý làm thủ tục hải quan thì các Tờ khai hải quan phải đứng tên Nguyên đơn. 13 tờ khai hải quan đều đứng tên Bị đơn, Bị đơn còn cấp giấy giới thiệu, xác nhận nhân viên của Nguyên đơn là người của Bị đơn để làm thủ tục Thông quan (hàng hóa). Từ đó, HĐTT nhận thấy Nguyên đơn không phải là Đại lý làm thủ tục hải quan mà chỉ là người làm thuê dịch vụ khai hải quan. Hơn nữa, theo Điều I.3 “Các Điều kiện Kinh doanh chuẩn của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam” mà hai Bên chấp nhận (trong Hợp đồng và các email báo giá) thì khi làm thủ tục hải quan, xin giấy phép…, Nguyên đơn chỉ được coi là người thực hiện công việc thay mặt Bị đơn theo Giấy giới thiệu của Bị đơn mà không phải là Đại lý làm thủ tục hải quan, do đó, sự chậm trễ trong thông quan và phát sinh phí lưu container hoàn toàn do lỗi của Bị đơn. (*)
Ngô Khắc Lễ
Xuất Nhập Khẩu ứng phó với Covid-19: Ngành logistics chịu tác động như thế nào?
Đại dịch Covid-19 đã làm đứt gãy và đảo lộn hệ thống cung ứng toàn cầu trong đó có hoạt động logistics.
Ảnh hưởng nặng nề do dịch, doanh nghiệp logistics còn chịu nhiều khó khăn khác
Các gói hỗ trợ thì vẫn chưa đến được với nhiều doanh nghiệp
Dự báo quý 2, quý 3 năm nay sẽ là thời điểm ngành logistics bị ảnh hưởng sâu từ Đại dịch.
Hãy cùng theo dõi chương trình Xuất Nhập Khẩu Cuối Tuần này để tìm hiểu những tác động của dịch Covid-19 lên ngành logistics và những giải pháp của doanh nghiệp là như thế nào.
Cơ hội 'trăm năm có một' cho doanh nghiệp Việt
TTO - "Làn sóng chuyển dịch chuỗi giá trị đang xem Việt Nam là ô cờ trung tâm cần chiếm lĩnh, và đây là cơ hội "trăm năm có một" mà các doanh nghiệp Việt Nam là quân cờ trắng, có cơ hội đi trước, nên cần tận dụng".
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh như vậy tại hội nghị "Cùng nỗ lực, vượt thách thức, đón thời cơ, phục hồi nền kinh tế" sáng 9-5.

Doanh nghiệp: giữ lao động; giữ thị trường và phát triển thị trường; giữ danh dự, bản lĩnh doanh nhân Việt Nam. Trên tinh thần đó, phải cải cách, tái cơ cấu doanh nghiệp phù hợp với bối cảnh hiện nay. Cơ quan nhà nước: quan tâm xử lý tạo môi trường tốt cho doanh nghiệp, hợp tác, hỗ trợ doanh nghiệp cả về chính sách, chia sẻ cùng doanh nghiệp, giữ ổn định vĩ mô, nhất là giữ lạm phát, giữ giá trị đồng Việt Nam.
Hội nghị tổ chức theo hình thức truyền hình trực tiếp để 800.000 doanh nghiệp, trên 5 triệu hộ kinh doanh và người dân có thể theo dõi. Đây cũng được xem như Hội nghị Diên Hồng có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, có ý nghĩa quan trọng khi Việt Nam đang kiểm soát tốt dịch COVID-19.
Doanh nghiệp không ỷ lại
Lắng nghe tất cả ý kiến góp ý của doanh nghiệp, cơ quan, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng Việt Nam là điểm sáng đã kiểm soát và đẩy lùi dịch bệnh, xác lập một trạng thái bình thường mới nên cần tập trung đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh.

Nguồn: Bộ Kế hoạch - đầu tư - Đồ họa: N.K.
Thủ tướng đồng ý tiếp tục đưa các chuyên gia, các nhà quản lý người nước ngoài vào Việt Nam để hợp tác cùng phát triển, trước hết là Lào, Campuchia và nhiều nước khác trong thời gian tới.
Nhìn nhận đây là cơ hội cho Việt Nam, Thủ tướng nêu ra 3 yêu cầu đối với doanh nghiệp. Đó là không được trông chờ, ỷ lại mà phải tập trung tái cơ cấu, nâng cao trình độ quản trị, áp dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ để nâng cao năng suất.
Nhấn mạnh tinh thần "chống dịch như chống giặc", Thủ tướng cho rằng giờ đây là tinh thần "chống trì trệ như chống dịch" cần phải được thúc đẩy. "Đừng nhìn người khác, nơi khác, virus trì trệ nằm ngay trong chính bản thân chúng ta, tổ chức của chúng ta, địa phương của chúng ta và cả trong doanh nghiệp của chúng ta" - Thủ tướng nói.
Chính quyền không đổ qua đổ lại
Với các cơ quan bộ ngành, địa phương, Thủ tướng yêu cầu cần lắng nghe, tiếp thu ý kiến doanh nghiệp, xắn tay áo vào cuộc, các địa phương phải tháo gỡ trực tiếp cho doanh nghiệp, cải thiện tình hình kiểm soát, tăng cường hậu kiểm, làm nhanh các thủ tục.
Thủ tướng nhấn mạnh lại tinh thần không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự. "Các đồng chí kiểm tra, thanh tra nhiều quá cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp. Chúng ta thực hiện hậu kiểm trong bối cảnh khó khăn này".
Đón sóng chuyển dịch đầu tư, vươn tầm quốc tế
Những yêu cầu trên được Thủ tướng nêu ra khi ông kỳ vọng hội nghị này phải thể hiện tinh thần yêu nước, với quyết tâm hành động mạnh mẽ để Việt Nam phát triển theo hình chữ V chứ không phải chữ U hay chữ W.
Mà trước hết, cần đạt được mục tiêu trong năm nay là tăng trưởng trên 5% và lạm phát dưới 4%, làm tiền đề hướng tới tầm nhìn Việt Nam 2045 là trở thành quốc gia thịnh vượng. Thủ tướng khẳng định dịch bệnh không làm thay đổi mục tiêu và tầm nhìn này.
Nhấn mạnh đến làn sóng chuyển dịch chuỗi giá trị đang xem Việt Nam là ô cờ trung tâm cần chiếm lĩnh, và đây là cơ hội "trăm năm có một", Thủ tướng đưa ra sáu lời đề nghị với doanh nghiệp: Trước hết là yêu Tổ quốc, làm gì cũng phải nghĩ tới Tổ quốc, thượng tôn pháp luật, có tinh thần chia sẻ; Có tinh thần đoàn kết, vì mất đoàn kết là tự làm yếu mình; Không nản chí, vì nản chí là tự bỏ cuộc; Năng động và quyết đoán, bởi thụ động lưỡng lự là mất cơ hội; Sáng tạo bởi nếu thiếu sáng tạo là tự thụt lùi; Có niềm tin bởi nếu tự chối bỏ mình là không thành công.
* PGS.TS Trần Hoàng Ngân (viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM):
Doanh nghiệp thấy được những "điểm sáng" từ chính sách
Qua hội nghị này, chúng ta thấy được nhiều thông điệp giúp doanh nghiệp TP.HCM nói riêng và cộng đồng doanh nghiệp cả nước có nhiều cơ hội để phát triển, phục hồi sau đại dịch. Cụ thể như thời gian gia hạn các khoản nợ, giãn thuế, tiền thuê đất hay là việc các cơ quan sẽ trình Quốc hội giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT... Ngân hàng Nhà nước cũng gửi một thông điệp để các doanh nghiệp thấy được những "điểm sáng", cụ thể sẽ tiến tới giảm lãi suất điều hành như lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, từ đó giúp các doanh nghiệp giảm các chi phí cần thiết. Còn nhiều giải pháp khác mà Chính phủ sẽ đồng hành với các doanh nghiệp, tương tự TP.HCM cũng sẽ đồng hành với các doanh nghiệp để khôi phục kinh tế.
* Ông Nicolas Audier (chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại VN):
Việt Nam đang có vị thế tốt đón đầu các cơ hội mới
Hội nghị đặc biệt với doanh nghiệp này là bằng chứng cho thấy Việt Nam đang dẫn đầu thế giới trong cuộc chiến chống COVID-19. Những hành động nhanh chóng, quyết đoán và các phản ứng của Việt Nam bao gồm các gói kinh tế hiệu quả đã được công nhận trên toàn thế giới.
Những biện pháp mạnh mẽ trên đã giúp duy trì thành tích kinh tế, tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), duy trì niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp châu Âu rằng Việt Nam luôn là điểm đến đầu tư an toàn, hấp dẫn. Việt Nam hiện đang có vị thế tốt để đón đầu các cơ hội đầu tư kinh doanh mới và đẩy mạnh phát triển kinh tế ổn định.
N.HIỂN ghi
* Ông Đặng Hồng Anh (chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam):
Khống chế lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 năm dưới 5%
Đề nghị Ngân hàng Nhà nước cần ban hành trần lãi suất tiền gửi dài hạn trên 1 năm khoảng 5%/năm, lũy tiến 0,5% cho các năm tiếp theo để các ngân hàng có nguồn vốn giá rẻ hỗ trợ doanh nghiệp. Để hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp đang rất khó khăn trong bối cảnh hiện nay, đề nghị miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp. Ngoại trừ vốn từ ngân hàng, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán cần có chính sách khuyến khích thị trường vốn hỗ trợ các công ty chứng khoán, các doanh nghiệp niêm yết.
* Ông Lê Minh Hưng (thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam):
Xử lý trực tiếp vướng mắc về tín dụng
Thông tư 01 quy định việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng mà không giới hạn ngành nghề, loại hình, không phân biệt nhóm nợ. Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ xem xét chủ trương kéo dài hơn thời gian cơ cấu lại nợ nếu cần thiết.
Hiện các tổ chức tín dụng đã chủ động ban hành văn bản nội bộ, triển khai đến từng chi nhánh, phòng giao dịch, nhưng còn một số nơi chưa triển khai quyết liệt nên việc thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho một số doanh nghiệp còn chưa kịp thời.
Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo thiết lập ngay đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý kịp thời, triệt để từng trường hợp doanh nghiệp gặp vướng mắc, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp thiếu trách nhiệm, gây khó khăn, phiền hà. Ngay sau hội nghị này, Ngân hàng Nhà nước sẽ lập đoàn công tác làm việc tại các địa phương nhằm thực hiện các giải pháp của ngành ngân hàng để kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh, vừa đảm bảo an toàn lành mạnh tài chính cho tổ chức tín dụng.
NGỌC AN - BẢO NGỌC - NGỌC HIỂN
Link gốc bài viết: https://tuoitre.vn/co-hoi-tram-nam-co-mot-cho-doanh-nghiep-viet-20200510075641442.htm
Chủ tịch VLA: Kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi và phát triển

Ông nhận định như thế nào về mức độ ảnh hưởng của dịch COVID-19 đến hoạt động ngành logistics nói riêng và nền kinh Việt Nam nói chung? Hiện nay, doanh nghiệp logistics đang gặp phải những khó khăn nào, thưa ông?
Đại dịch COVID-19 bùng nổ từ cuối tháng 01/2020 đã tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các nền kinh tế toàn cầu, làm gãy, đảo lộn hệ thống cung ứng toàn cầu, trong đó có hoạt động logistics.
Theo khảo sát của VLA, 20% - 50% hoạt động của các Hội viên bị ảnh hưởng (giảm về hoạt động và doanh thu) tùy theo loại hình dịch vụ cung cấp. Dịch vụ logistics hàng không, đường bộ và đường sắt bị ảnh hưởng nhiều nhất, đặc biệt trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội. Có đến 80% Hội viên VLA là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên nhiều doanh nghiệp bị đình trệ sản xuất và một số doanh nghiệp có thể sẽ phải giải thể nếu đại dịch kéo dài một thời gian nữa. Đại dịch đã cho chúng ta thấy, không nên quá phụ thuộc vào một vài nền kinh tế hàng đầu thế giới trong chuỗi cung ứng, theo đó hoạt động logistics bị tác động theo.
Kinh tế Việt Nam đang gặp khó khăn khi tăng trưởng GDP quý I/2020 chỉ đạt 3,82%, mức thấp nhất trong giai đoạn 10 năm qua (2011 - 2020); Áp lực lạm phát vẫn cao, dù nhiều nhóm hàng hóa giảm giá; Xuất siêu tăng gần 4 tỷ USD, chủ yếu là khu vực FDI, song xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn, quý I/2020 chỉ đạt 122,73 tỷ USD; Vốn FDI suy giảm. Tiếp theo sự ngưng trệ thương mại với Trung Quốc là với các nước khác do đại dịch COVID-19 lan truyền cả thế giới. Từ đó đối tượng phục vụ chủ yếu của dịch vụ logistics là sản xuất và xuất nhập khẩu giảm sút đáng kể làm cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics gặp nhiều khó khăn, khó khăn về tài chính thanh khoản và việc làm của người lao động.
Được biết, thời gian qua, VLA đã có nhiều công văn gửi các Bộ, ngành nhằm kiến nghị nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi COVID-19, đặc biệt là công văn số 14/VP-HH gửi tới Thủ tướng Chính phủ ngày 11/3. Vậy các doanh nghiệp hiện nay đã tiếp cận các chương trình hỗ trợ của Chính phủ như thế nào, thưa ông?
Trước những khó khăn của doanh nghiệp, Hiệp hội đã kịp thời khảo sát, lấy ý kiến của các Hội viên để kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh các quyết sách chung về tài khóa và tài chính của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ mà mọi doanh nghiệp đang được hưởng lợi như vấn đề giảm giá điện, giá xăng dầu,… thì một số kiến nghị riêng cho ngành logistics đã được các Bộ, ngành liên quan xem xét giải quyết. Tuy nhiên, các vấn đề về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, vay vốn ngân hàng, giảm chi phí cho vận tải… doanh nghiệp chưa thực sự được tiếp cận hoặc giải quyết. Nhà nước cần có những giải pháp quyết liệt hơn để kịp thời giúp doanh nghiệp dịch vụ logistics vượt qua khó khăn để tồn tại và phát triển khi đại dịch kết thúc.
Bất kỳ chính sách nào của Chính phủ đã đưa ra lúc này đều quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp, nhưng hữu ích nhất đối với doanh nghiệp dịch vụ logistics là giảm và hoãn các loại thuế, giảm lãi suất vay, cắt giảm các loại phí tác động mạnh đến sự gia tăng của chi phí logistics cho toàn nền kinh tế và đời sống xã hội.

Hiện nay, Việt Nam đang kiểm soát khá tốt dịch bệnh, trong giai đoạn tới, doanh nghiệp phải chuẩn bị kế hoạch khôi phục và phát triển kinh doanh hậu COVID-19. Theo ông, các doanh nghiệp logistics cần phải chuẩn bị, thực hiện những gì để tạo đà thúc đẩy phát triển kinh doanh trở lại?
Nhìn ở góc độ khách quan, đại dịch COVID-19 cũng là một cơ hội để các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics nắm bắt cơ hội trong thách thức. Các doanh nghiệp Hội viên cần xem xét lại chiến lược hoạt động, đa dạng hóa thị trường cung cấp dịch vụ, cải tổ bộ máy hoạt động, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh và cắt giảm chi phí nhằm tối đa hóa hiệu quả hoạt động kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp phải nhanh chóng xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh với các chỉ tiêu và biện pháp thực hiện cụ thể trong đó tập trung vào việc huy động vốn kinh doanh, mở rộng sản xuất, hợp tác liên kết trong và ngoài nước để mở rộng thị trường cung cấp dịch vụ…
Khủng hoảng cũng là lúc thị trường sàng lọc các doanh nghiệp theo cơ chế thuận tự nhiên, do đó, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics cần biết nắm bắt cơ hội để có thể tìm ra con đường hợp tác, khôi phục vượt qua khủng hoảng. Thuận lợi trước mắt là vị thế địa chính trị của Việt Nam, nhất là sau thắng lợi của việc chống đại dịch COVID-19, là việc thực thi EVFTA, CPTPP tạo ra sự phát triển của hàng hóa xuất nhập khẩu và đón dòng vốn đầu tư chuyển dịch từ thị trường Trung Quốc của Mỹ, Nhật Bản và các nước EU.
Dự báo về thời gian, khả năng, tốc độ phục hồi của ngành dịch vụ vận tải, logistics trong thời gian tới, ông có ý kiến thế nào về các vấn đề này?
Vừa qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng cộng đồng doanh nghiệp vẫn đồng lòng, cùng các cơ quan chức năng chấp hành nghiêm các biện pháp phòng chống, dịch. Hiện nay, dịch bệnh đang được kiểm soát tốt, kinh tế sẽ từng bước được phục hồi và phát triển trở lại. Hoạt động xuất nhập khẩu được dự báo sẽ phát triển mạnh khi các bạn hàng của Việt Nam khôi phục và phát triển kinh tế, thương mại. Đầu tư trực tiếp vào Việt Nam cũng sẽ gia tăng khi các nước công nghiệp sẽ chuyển dịch đầu tư vào Việt Nam và các hiệp định thương mại tự do, nhất là CPTPP và EVFTA được thực thi. Theo đó, ngành dịch vụ vận tải, logistics của chúng ta sẽ phục hồi nhanh và phát triển mạnh mẽ hơn thời gian trước đại dịch COVID-19. Đó là hy vọng của tôi.
Xin cảm ơn ông!
Quang Anh
Link gốc bài viết: http://vlr.vn/logistics/chu-tich-vla-kinh-te-viet-nam-se-phuc-hoi-va-phat-trien-6096.vlr
NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS VIỆT NAM VỚI CHUYỂN ĐỔI SỐ !
Ngày 25/4/2020, dưới sự bảo trợ của Bộ Công thương, ABIVIN đã tổ chức Hội thảo trực tuyến về “COVID-19 tác động đến chuyển đổi số trong chuỗi cung ứng Việt Nam”. Tham gia có diễn giả là những chuyên gia hàng đầu của Việt Nam về chuyển đổi số. Những vấn đề đề cập trong Hội thảo liên quan đến chuyển đổi số trong ngành dịch vụ logistics cần được nghiên cứu để áp dụng.

1. Tác động của đại dịch COVID-19 đối với chuỗi cung ứng dịch vụ nứơc ta:
Đại dịch Covid-19 bùng nổ từ tháng tháng 1/2020 đã tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các nền kinh tế toàn cầu, cả về kinh tế, tài chính, chính trị, văn hóa xã hội, ngoại giao và sức khỏe con người. Đến ngày 26/4/2020 số người chết đã lên trên 200.000 người. Đại dịch đã làm gãy, đảo lộn hệ thống cung ứng toàn cầu, trong đó có hoạt động logistics, một mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng. Nền kinh tế Việt Nam bị tác động nặng nề. Tăng trưởng GDP Quý 1/2020 chỉ đạt 3,82%, mức thấp nhất trong giai đoạn 10 năm qua (2011-2020); Xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn, Quý 1/2020 chỉ đạt 122,73 tỷ USD. Từ đó đối tượng phục vụ chủ yếu của ngành dịch vụ logistics là sản xuất, lưu thông phân phối và xuất nhập khẩu giảm sút đáng kể làm cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics gặp rất nhiều khó khăn thực sự, cần có biện pháp giải quyết cấp bách. Doanh thu giảm sút làm cho doanh nghiệp gặp quá nhiều khó khăn về tài chính thanh khoản và việc làm của người lao động.
Theo khảo sát của VLA, 15-50% hoạt động của các hội viên giảm về hoạt động và doanh thu, tùy theo loại hình dịch vụ cung cấp. Dịch vụ logistics hàng không, đường bộ và đường sắt bị ảnh hưởng nhiều nhất, đặc biệt trong thời gian thực hiện cách ly xã hội. 80 % Hội viên VLA là Doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên nhiều doanh nghiệp bị đình trệ sản xuất và một số doanh nghiệp sẽ giải thể nếu đại dịch kéo dài một thời gian nữa.
Đại dịch đã cho chúng ta thấy không nên quá phụ thuộc vào một vài nền kinh tế hàng đầu thế giới trong chuỗi cung ứng, một khi bị đứt gãy thì hoạt động logistics bị tác động theo, đáng chú ý là hoạt động tồn kho (inventory). Tuy nhiên, đại dịch cũng gián tiếp thúc đẩy hoạt động thương mại điện tử phát triển, là chất xúc tác cho các doanh nghiệp chuyển đổi số.
2. Chuyển đổi số là một yêu cầu khách quan và cấp bách hiện nay của ngành dịch vụ logistics
Chuyển đổi số là gì và khác gì với số hóa: Theo các chuyên gia giải thích “Số hóa là” việc biến đổi các giá trị thực sang dạng số, còn "Chuyển đổi số" là khi có dữ liệu được số hoá rồi, chúng ta phải sử dụng các công nghệ như AI, Big Data... để phân tích dữ liệu, biến đổi nó và tạo ra một giá trị khác. Vì vậy, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cần thiết phải chuyển đổi số (Digital Tranformation) nhằm thay đổi sự trì trệ, tạo sự đột phá để nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm chi phí logistics, tăng trưởng, có thêm khách hàng và đạt lợi nhuận tối đa vượt trội so với trước khi chuyển đổi số.
Lợi ích của chuyển đổi số: Chuyển đổi số mang lại nhiều lợi ích như cắt giảm chi phí hoạt động, tiếp cận được nhiều khách hàng hơn, trong thời gian dài hơn, lãnh đạo ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn nhờ hệ thống báo cáo thông suốt kịp thời. Nhân viên làm việc có hiệu quả cao hơn. Qua đó, hiệu quả hoạt động và tính cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao. Cụ thể có lợi ích như sau:
a) Xóa đi khoảng cách giữa các bộ phận trong một doanh nghiệp: Thực tế ở các doanh nghiệp chưa chuyển đổi số, hầu như không có sự liên kết thông tin giữa các bộ phận với nhau, không có tính liên kết bởi vì mỗi bộ phận sử dụng một phần mềm riêng lẻ. Chính điều này đã khiến cho công việc chung thường xuyên bị tắc nghẽn không rõ nguyên nhân, kéo theo hàng loạt các tác động xấu đến doanh nghiệp, doanh thu đi xuống, công tác chăm sóc khách hàng- một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của dịch vụ logistics bị hạn chế. Khi áp dụng chuyển đổi số, doanh nghiệp đã tạo ra một nền tảng kết nối được tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp nhưng mỗi bộ phận nghiệp vụ vẫn có công cụ để phục vụ nghiệp vụ chuyên môn mà vẫn có thể giao tiếp với bộ phận khác. Thông qua các kết nối này, các vấn đề được nhận dạng, phòng ngừa trước khi xẩy ra và sẽ được xử lý nhanh chóng khi các chức năng có thểnhận thấy và phối hợp cùng nhau.
b) Tăng cường sự minh bạch và hiệu quả trong hệ thống quản trị doanh nghiệp: Thay vì phải đợi nhân viên gửi báo cáo qua đường email hoặc báo cáo bản cứng như trước đây, các lãnh đạo hoàn toàn có thể chủ động xem các loại báo cáo mà mình muốn bất cứ lúc nào thông qua hệ thống. Đây là lợi ích vô cùng to lớn do chuyển đổi số mang lại. Mọi hoạt động của doanh nghiệp được thể hiện qua các phần mềm quản trị doanh nghiệp, giúp lãnh đạo phát hiện ra khâu nào chưa tốt để cải thiện.
c) Nâng cao năng suất lao động của nhân viên trong doanh nghiệp qua đó. nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, phục vụ khách hàng tốt hơn.
3. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cần tiến hành chuyển đối như thế nào?
Trong ngành dịch vụ logistics của Việt Nam, công nghệ thông tin đã được quan tâm; quá trình chuyển đổi số đã bắt đầu diễn ra do yêu cầu công việc liên quan nhiều đến yếu tố quốc tế. Tuy nhiên, các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam nói chung, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa nhận thức đúng vai trò chuyển đổi số trong cuộc các mạng công nghiệp lần thứ tư. Do doanh nghiệp vừa và nhỏ đang đối mặt với những rào cản trong quá trình chuyển đổi kỹ thuật số như, thiếu kỹ năng số và nguồn nhân lực, thiếu nền tảng công nghệ thông tin đủ mạnh để cho phép chuyển đổi kỹ thuật số, thiếu tư duy kỹ thuật số và hơn hết là sự hạn chế về khả năng tài chính, mặc dù Việt Nam đã có khung pháp lý thương mại điện tử tương đối đày đủ, cho phép chuyển đổi số.
Từ tình hình thực tế đó các diễn giả, chuyên gia đã đưa ra các lời khuyên cho doanh nghiệp dịch vụ logistics nước ta. Có ba nội dung cần phải làm. Đầu tiên là sẵn sàng về phương diện lãnh đạo. Người lãnh đạo cần hiểu mình muốn gì và công nghệ có thể chuyển đổi công ty của mình thế nào. Thay đổi về tư duy từ lãnh đạo đến nhân viên về chuyển đổi số. Thứ hai là sẵn sàng về phương diện tổ chức. Cần sự tham gia của cả tổ chức để làm nên sự chuyển đổi. Chúng ta cần đào tạo và phát triển nhân sự. Thứ ba là sẵn sàng về phương diện công nghệ. Điều này cần được phát triển đồng thời với yếu tố nhân sự.
Việc chuyển đổi số phải làm vững chắc, theo lộ trình phù hợp với khả năng của doanh nghiệp. Rà soát mục tiêu tập trung để thực hiện, đánh giá lại số liệu hiện có của doanh nghiệp; cải tiến quy trình cho cả hoặc một phần quy trình; lựa chọn công nghệ và nhà cung cấp giải pháp cho phù hợp với lộ trình và khả năng tài chính, nhưng có tầm nhìn dài hạn.
Hiện nay, các Doanh nghiệp của Việt Nam đang cung cấp từ 2 đến 17 dịch vụ logisitics khác nhau, trong đó chủ yếu là dịch vụ giao nhận, vận tải, kho hàng, chuyển phát nhanh và khai báo hải quan. 50%-60% doanh nghiệp đang ứng dụng các loại hình công nghệ khác nhau, tùy theo quy mô và tính chất dịch vụ của từng doanh nghiệp. Như trên đã nêu, khó khăn lớn nhất cho doanh nghiệp là khả năng tài chính. Xin nêu một công nghệ cụ thể để chúng ta hình dung sự khó khăn của việc chuyển đổi số của doanh nghiệp logistics vừa và nhỏ. CW1) là một công nhệ của Australia đang được sự dụng trên thế giới. Ở Việt Nam, công ty DTK Logistics Solution, TP HCM, đang là đại diện.
Cargowise One (CW1) tích hợp toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp, từ CRM (quản lý quan hệ khách hàng, từ bán hàng, booking, chứng từ, kế toán…). CW1 bao gồm nhiều phân hệ như Customs, TMS, WMS, Freight Forwarding... được tích hợp trong cùng một hệ thống (integrated system). Tính năng tự động hóa và tích hợp cao. Hệ thống được host trên cloud tại 3 trung tâm dữ liệu (data centers) ở Australia, Anh và Mỹ. Giá sử dụng tính theo người sử dụng và giao dịch (user và transaction). Với doanh nghiệp 25-50 người, chi phí sử dụng khoảng 50-150 triệu đồng/tháng. CW1 có tính linh hoạt rất cao (customization through configuraration); người sử dụng, một năm phải thanh toán từ 1 tỷ đến 1,5 tỷ đồng VN. Trong khi đó, phần mềm giao nhận, vận tải, kho bãi đơn lẻ hiện giải quyết vấn đề số hoá chứ không giúp cho chuyển đổi số. Phần mềm giao nhận hiện tại, khoảng 100-200 triệu đồng, trả một lần, sau đó có phí bảo trì hàng năm khoảng 10-20%.
4. Một số đề nghị với cơ quan nhà nước
Như đã phân tích, việc chuyển đổi số đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics hiện nay là một yêu cầu cấp thiết để khôi phục và phát triển ngành dịch vụ logistics trong điều kiện “sống an toàn” với đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, ngoài quyết tâm, chủ động và nỗ lực của doanh nghiệp là chính thì cũng cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước.
Trước hết là việc hoàn thiện khung khổ pháp lý cho việc chuyển đổi số, nhất là vấn đề bảo mật, hợp tác phòng chống phá hoại, vấn đề quản trị kỹ thuật số, thuế đánh vào công nghệ số nhằm khuyến khích phát triển…Bênh cạnh đó, nhà nước cần có chính sách khuyến khích chuyển đổi số, hỗ trợ về vốn vay và lãi vay ưu đãi cho các doanh nghiệp chuyển đổi số và cho các công ty start up về giải pháp công nghệ số. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp logistics có thể mua giải pháp hoặc thuê giải pháp từ các doanh nghiệp cung cấp phần mềm khi chưa có đủ khả năng tài chính./.
Nguyễn Tương (VLA)
Xuất khẩu bắt đầu “thấm đòn” Covid-19
Xuất khẩu trong nửa đầu tháng 4-2020 của Việt Nam đã giảm mạnh. Triển vọng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian còn lại của năm 2020 sẽ phụ thuộc rất lớn vào diễn biến dịch bệnh tại các thị trường xuất khẩu chính như Mỹ và Liên minh châu Âu (EU).

Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong quí 1-2020 đạt 63,2 tỉ đô la Mỹ, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2019. Có thể thấy mức tăng này là khá tích cực xét trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát và lây lan mạnh trên thế giới như trong thời gian vừa qua.
Về cơ cấu, hai thị trường xuất khẩu có mức tăng trưởng mạnh nhất của Việt Nam trong ba tháng đầu năm là Trung Quốc và Mỹ với mức tăng lần lượt là 24% và 20%. Thị trường châu Âu cho thấy xu hướng tiêu cực với mức suy giảm 6% so với cùng kỳ.
Với thị trường Mỹ, các mặt hàng xuất khẩu đáng chú ý (kim ngạch đạt từ 1 tỉ đô la trở lên) là: dệt may, điện thoại, máy vi tính, sản phẩm điện tử, giày dép, đồ gỗ; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng. Cụ thể, trong quí 1, Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam với giá trị đạt 3,3 tỉ đô la. Dù giảm nhẹ hơn 20 triệu đô la so với cùng kỳ năm trước, nhưng thị trường Mỹ vẫn chiếm đến 47% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước. Với nhóm hàng điện thoại và linh kiện, Mỹ đã vươn lên là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 2,67 tỉ đô la, tăng 1,1% so với cùng kỳ. Với mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, xuất khẩu sang Mỹ đạt gần 1,96 tỉ đô la, gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2019 và vươn lên là thị trường lớn thứ 2 sau Trung Quốc.
| Tính đến hết ngày 15-4-2020, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 71,61 tỉ đô la, chỉ còn tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2019 (thu hẹp so với mức tăng 7,5% hồi cuối tháng 3). |
Trong khi đó, ở chiều nhập khẩu, Việt Nam chi 3,55 tỉ đô la để nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 6% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước. Nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất và cũng là nhóm duy nhất đạt kim ngạch “tỉ đô” từ thị trường Mỹ trong quí 1-2020 là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với kim ngạch gần 1,17 tỉ đô la. Diễn biến này giúp Việt Nam duy trì trạng thái xuất siêu lớn sang thị trường Mỹ với giá trị đạt 12,4 tỉ đô la trong ba tháng đầu năm.
Với Trung Quốc, bất ngờ khá lớn khi xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này vẫn đạt mức tăng trưởng cao trong quí 1 (24%) dù dịch Covid-19 khiến hoạt động giao thương với nước này ít nhiều bị ảnh hưởng.
Nhìn kỹ vào cơ cấu các nhóm hàng thì điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là hai nhóm hàng đóng góp lớn nhất vào mức tăng trên khi lần lượt đạt kim ngạch 1,98 tỉ đô la (tương ứng tăng 3,87 lần so với cùng kỳ) và 2,58 tỉ đô la (tương ứng tăng 46%). Trong quá khứ đã từng có quãng thời gian (nửa đầu năm 2018) kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng này sang thị trường Trung Quốc cũng bất ngờ tăng mạnh nhưng sau đó lại nhanh chóng hạ nhiệt. Nhiều khả năng, diễn biến này chủ yếu do động thái điều chỉnh về nguồn xuất, nguồn nhập của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn tại Việt Nam.
Ngoại trừ hai nhóm hàng điện tử nêu trên thì mặt hàng nông sản (bao gồm hàng rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su) xuất sang Trung Quốc cho thấy sự khó khăn rõ nét hơn do dịch bệnh. Xuất khẩu nhóm hàng này trong quí 1 chỉ đạt 3,98 tỉ đô la, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất với 1,15 tỉ đô la, giảm 14,7% so với cùng kỳ năm 2019.
Còn nhiều khó khăn ở phía trước
Tác động của dịch Covid-19 đến tình hình xuất khẩu của Việt Nam được dự báo sẽ trở nên tiêu cực và rõ nét hơn kể từ đầu quí 2-2020 trở đi do đây là thời điểm Mỹ và châu Âu chính thức thực hiện “cách ly xã hội”. Điều này sẽ khiến cho hầu hết các hoạt động kinh tế ở những nước này đóng băng, qua đó nhu cầu hàng hóa sẽ giảm theo. Hiện thị trường Mỹ và EU chiếm tỷ trọng hơn 47% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nên gần như chắc chắn xuất khẩu sang hai thị trường này sẽ sụt giảm mạnh trong tháng 4.
Thống kê mới đây của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy xu hướng này khi tổng trị giá hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu tháng 4-2020 chỉ đạt 8,26 tỉ đô la, giảm 36,6% (tương ứng giảm 4,72 tỉ đô la về số tuyệt đối) so với nửa cuối của tháng 3-2020.
Sự suy giảm diễn ra ở hầu hết các mặt hàng chủ lực như: điện thoại các loại và linh kiện (giảm 1,39 tỉ đô la, tương ứng giảm 52,1%); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (giảm 669 triệu đô la, tương ứng giảm 31,6%); hàng dệt may (giảm 416 triệu đô la, tương ứng giảm 36%); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (giảm 389 triệu đô la, tương ứng giảm 33,6%); phương tiện vận tải và phụ tùng (giảm 220 triệu đô la, tương ứng giảm 48,8%); gỗ và sản phẩm gỗ (giảm 176 triệu đô la, tương ứng giảm 35,2%)... Như vậy, tính đến hết ngày 15-4-2020, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 71,61 tỉ đô la, chỉ còn tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2019 (thu hẹp so với mức tăng 7,5% hồi cuối tháng 3).
Triển vọng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian còn lại của năm 2020 sẽ phụ thuộc rất lớn vào diễn biến dịch bệnh tại các thị trường xuất khẩu chính như Mỹ và EU. Mặc dù các doanh nghiệp đã và đang nỗ lực đa dạng hóa thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu sang một số đối tác khác tại châu Á như Đài Loan, Hồng Kông... nhằm giảm thiểu rủi ro, nhưng nhìn chung sự chuyển dịch còn tương đối chậm và khiêm tốn.
Điểm tích cực có thể kỳ vọng là Trung Quốc và Hàn Quốc đang kiểm soát dịch bệnh tốt nên hoạt động xuất khẩu sang hai thị trường này có thể sẽ hồi phục nhanh hơn trong thời gian tới. Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu được dự báo ở mức âm 3% (theo Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF), kéo theo hoạt động ngoại thương suy giảm tại khắp các thị trường thì việc giữ cho xuất khẩu không bị tăng trưởng âm có lẽ cũng được xem là một thành công cho Việt Nam trong năm 2020 này.
Đăng Linh
Link gốc bài viết: https://www.thesaigontimes.vn/303038/xuat-khau-bat-dau-tham-don-covid-19-.html
Tin nổi bật
- Doanh nghiệp logistics trước áp lực phải "xanh" để tạo giá trị bền vững
- 'Mỹ chưa có kế hoạch áp thuế hàng xuất khẩu Việt Nam'
- “Hạ nhiệt” chi phí logistics (Kỳ I): Mấu chốt là phát triển kết cấu hạ tầng
- “Hạ nhiệt” chi phí logistics (Kỳ II): Liên kết doanh nghiệp một cách chủ động
- “Hạ nhiệt” chi phí logistics (Kỳ III): Cần quản lý việc tăng phí và phụ phí
- “Hạ nhiệt” chi phí logistics (Kỳ IV): Cải thiện thủ tục hải quan, xã hội hoá kiểm tra chuyên ngành
- “Hạ nhiệt” chi phí logistics (Kỳ V): Phát triển logistics 4.0
- “Hợp lực để dẫn đầu” Tuyên bố chung của Chương trình hành động VIMC – 2021
- “Siêu cảng” mới tại Bà Rịa - Vũng Tàu có gì đặc biệt?
- “Tàu buýt container” - Giải bài toán phát triển cho ĐBSCL
- 10 sự kiện logistics Việt Nam năm 2019
- 10 sự kiện logistics Việt Nam năm 2019
- 100% hàng Việt Nam sang EU sẽ được cắt giảm thuế trong lộ trình ngắn
- 20 quốc gia ký thỏa thuận cam kết duy trì hoạt động của các cảng biển để đảm bảo thương mại hàng hải
- ACG - bước đi chiến lược trong "tâm bão"
- ACG khai trương tuyến vận chuyển hàng hóa TP. HCM - Jakarta
- Algeria: Các ngân hàng cần cảnh giác hơn trong việc mở L/C
- Ấn Độ áp thuế xuất khẩu 20%, giá gạo Việt bật tăng
- Ấn Độ sử dụng cảng nước sâu phục vụ xuất khẩu gạo trong bối cảnh xuất khẩu tăng do thiếu hụt toàn cầu
- Báo cáo chính sách, quy định về logistics: số tháng 6/2020
- Báo cáo chuyên sâu triển vọng thị trường logistics Lào (phát hành tháng 5/2021)
- Báo cáo thị trường kho lạnh, vận tải lạnh Việt Nam (Cập nhật tháng 5/2021)
- Báo cáo thị trường logistics cho ngành Hóa chất (Phiên bản mới nhất, cập nhật tháng 5/2021)
- Báo cáo thị trường logistics Nhật Bản, Hàn Quốc và những lưu ý đối với Việt Nam tháng 7/2024 (miễn phí)
- Báo cáo Thủ tướng việc giá cước vận tải hàng hải tăng phi mã
- Báo cáo tình hình thị trường Logistics Việt Nam quý I/ 2021 và dự báo
- Bất ngờ nhóm giải pháp cảng biển Hà Tĩnh áp dụng để đạt mục tiêu kép
- Các cảng ở Nam Phi bị gián đoạn hoạt động bởi bạo lực diễn ra
- Các giải pháp khắc phục hiệu quả khi thiếu hụt container rỗng
- Các hãng tàu không có lỗi
- Các liên minh hãng tàu container có tỷ lệ hủy chuyến 5%
- Các nhà bán lẻ châu Âu điều chỉnh chuỗi cung ứng để thích nghi tình hình mới
- Cận cảnh tàu hàng liên vận quốc tế từ Việt Nam đi Trung Quốc
- Cần cú hích về kết nối giao thông và dịch vụ sau cảng
- Cần đến 200 nghìn tỷ đồng đầu tư cảng biển Việt Nam trong 10 năm tới
- Cần sớm có Trung tâm logistics Cái Mép Hạ...
- Cần sớm có Trung tâm logistics Cái Mép Hạ...
- Cảng Antwerp bị ảnh hưởng bởi đình công vào ngày 9 tháng 11
- Cảng biển Nghi Sơn được nhập khẩu ô tô chở người dưới 16 chỗ ngồi
- Cảng vụ Hàng hải Quảng Ninh tiếp tục hỗ trợ người dân miền Trung vượt khó
- Cảng vụ Hàng hải TP. Hồ Chí Minh chủ động trong công tác phòng đấu tranh phòng, chống khai thác cát trái phép
- Cập nhật diễn biến các tuyến thương mại chính và xu hướng
- Cập nhật diễn biến các tuyến thương mại chính và xu hướng
- Cập nhật thông tin thị trường Thái Lan, tháng 6/2021
- Cập nhật tiến độ xây dựng hai bến 3, 4 Cảng Lạch Huyện (Hải Phòng)
- CẮT GIẢM CHI PHÍ LOGISTICS, NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ: CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CHI PHÍ LOGISTICS
- CẮT GIẢM CHI PHÍ LOGISTICS, NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ: CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CHI PHÍ LOGISTICS
- CẮT GIẢM CHI PHÍ LOGISTICS, NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ: CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CHI PHÍ LOGISTICS
- CẮT GIẢM CHI PHÍ LOGISTICS, NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH: NHỮNG KHUYẾN NGHỊ CỦA VLA (Phần 2)
- Cầu Cát Lái sẽ kết nối vào cao tốc Bến Lức - Long Thành?
- CHI PHÍ LOGISTICS VIỆT NAM CÓ THẬT LÀ “RẤT CAO”?
- Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025
- Chủ tịch VLA: Kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi và phát triển
- Chủ tịch VLA: Kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi và phát triển
- Chưa từng có: 60 nhà nhập khẩu giày dép Hoa Kỳ sẽ giao thương trực tuyến với doanh nghiệp Việt Nam
- Chúng ta có đang trên bờ vực của một cuộc khủng hoảng container toàn cầu?
- Chuỗi cung ứng lạnh đang 'nóng' nhất ngành logistics
- Chuỗi cung ứng lạnh đang 'nóng' nhất ngành logistics
- Chuỗi cung ứng lạnh đang 'nóng' nhất ngành logistics
- Chuyển đổi số tại Việt Nam - Bài 3: Đáp áp vận hành 'cỗ máy' khủng
- Chuyển đổi số tại Việt Nam - Bài 4: Không đơn giản chỉ là hiện đại hóa phương thức quản lý
- Chuyến tàu container quốc tế đầu tiên cập cảng Nghi Sơn
- Cơ chế một cửa quốc gia: Mức độ hài lòng của doanh nghiệp chưa cao
- Cơ hội 'trăm năm có một' cho doanh nghiệp Việt
- Cơ hội phát triển logistics ASEAN sau COVID-19
- Cơ hội phát triển logistics ASEAN sau COVID-19
- Có thể mất từ 18 đến 30 tháng để giá cước giảm trở lại bình thường - Sea-Intelligence
- Cổng Dịch vụ công Quốc gia - giá trị đã được chứng minh
- Container cầu vồng của hãng tàu Maersk cập Cảng Hải Phòng
- Container rỗng ùn ứ nghiêm trọng tại các cảng Bờ Tây nước Mỹ khi tình trạng tắc nghẽn ở mức kỷ lục
- Cosco Shipping hợp tác với FAW Group phát triển chuỗi cung ứng ngành ô tô
- CULines triển khai thêm các dịch vụ mới đến Đông Nam Á và Brazil
- Deutsche Post DHL Group hợp tác với UNDP tổ chức hội thảo 'chuẩn bị sân bay ứng phó với thiên tai' tại Iraq
- Dịch vụ chuyển phát nhanh phát triển từ sự bùng nổ thương mại điện tử ở Đông Nam Á
- Dịch vụ Logistics
- Diễn đàn Logistics Việt Nam 2020: Cắt giảm chi phí logistics nâng cao năng lực cạnh tranh
- Doanh nghiệp logistics tìm cơ hội chuyển đổi số khi chuỗi cung ứng bị đứt gãy
- Doanh nghiệp logistics xin giảm phí cầu đường
- Doanh nghiệp nước ngoài có được phép kinh doanh vận tải ở Việt Nam?
- Doanh nghiệp vận tải biển lớn nhất Việt Nam vừa chứng kiến điều chưa từng xảy ra trong lịch sử
- Doanh nghiệp Việt thiệt hại ra sao sau sự cố Ever Given
- Dòng vốn FDI thế hệ mới sẽ tiếp tục chảy vào Việt Nam
- Đa dạng hóa chuỗi cung ứng: Không hoang phí nỗ lực đàm phán
- Đa dạng hóa loại hình bến thủy nội địa: Không có mặt bằng vẫn được mở bến
- Đã giải phóng gần 600 container quá hạn tại các cảng biển
- Đẩy mạnh áp dụng lệnh giao hàng điện tử
- Đẩy nhanh tiến độ mở cửa thị trường cho nông sản Việt xuất khẩu sang Trung Quốc
- Đề xuất duy trì phà nhỏ vượt sông tại vị trí phà Vàm Cống
- Định hướng xây dựng cảng nước sâu cho vùng ĐBSCL
- Đối thoại tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vận tải thủy nội địa
- Đường sắt tăng mạnh hàng liên vận quốc tế bất chấp dịch Covid-19
- Đường thủy tăng kết nối, tận dụng lợi thế vận tải giá rẻ
- Elon Musk vượt Jeff Bezos để giàu nhất thế giới
- EU ban hành quy định mới về nhập khẩu một số động vật và hàng hóa dành cho tiêu dùng của con người
- EU thay đổi cách tiếp cận kiểm soát thực phẩm hỗn hợp nhập khẩu
- Gặp trường hợp “lạ” trong thanh toán qua L/C, doanh nghiệp đối mặt với nguy cơ mất hàng
- Giải “cơn khát” container
- Giải đáp về thuế GTGT với dịch vụ môi giới vận tải quốc tế
- Giảm chi phí logistics để vực dậy xuất khẩu dệt may
- Giờ đây, các hãng tàu biển là 'thượng đế'
- Giới thiệu sách Incoterms 2020 - Giải thích và Hướng dẫn sử dụng (Thực tiễn và lưu ý sử dụng thông qua các tranh chấp phổ biến)
- Gỡ điểm nghẽn hạ tầng logistics
- Gỡ khó cho doanh nghiệp vận tải
- Hà Nội dự kiến lắp đặt 15 trạm cân tự động, xóa "điểm nóng" xe quá tải
- Hải Phòng đón tàu container lớn nhất từ trước tới nay cập cảng
- Hạn chế rủi ro phòng vệ thương mại khi tham gia các Hiệp định thương mại tự do
- Hàng container xuất khẩu giảm giữa khủng hoảng container rỗng
- Hãng tàu COSCO và OOCL đưa tuyến dịch vụ mới đi Mỹ vào cảng CMIT
- Hệ thống ngân hàng chỉ cần lơ là, chậm trễ có thể sẽ khiến hàng trăm nghìn doanh nghiệp đang hứng chịu đại dịch Covid-19 phải đóng cửa
- Hệ thống thông tin Logistics (Logistics Information System - LIS) là gì?
- Hiến máu tình nguyện - phong trào nhiều ý nghĩa
- Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) được xem là cơ hội đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và các nước ở khu vực này. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thị trường EU của doanh nghiệp logistics trong nước không lớn do thị trường này có c
- hính sách nhập khẩu mới của Algeria Để bảo vệ nền sản xuất trong nước
- Hòa giải tranh chấp thu phí đối với container SOC
- Hội nghị "Phát triển dịch vụ logistics tại Hải Phòng - nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh liên kết vùng"
- Hội nghị và Triển Lãm Quốc Tế “Air Freight Logistics Vietnam”
- Hội thảo trực tuyến giới thiệu cảng Seattle & Tacoma tại bang Washington (Bờ tây Hoa Kỳ)
- Hơn 1.700 tỷ đồng bảo trì kết cấu hạ tầng hàng hải
- https://pruo365-my.sharepoint.com/:f:/g/personal/vtx_viet_prudential_com_vn/En4xf4pX4vZIg_5UO1oz2O0BRnqP4MV2ehQRZWh5v2UwSQ?e=dQpwGA
- Huy động 200 nghìn tỷ đầu tư cảng biển thế nào?
- Huy động gần 7.000 tỷ đầu tư hai bến cảng mới Lạch Huyện thế nào?
- ICAO ban hành hướng dẫn y tế khi ngành hàng không hoạt động trở lại
- IMO quy định khắt khe, doanh nghiệp vận tải biển vượt ải thế nào?
- Khảo sát của Nikkei: 70% doanh nghiệp Nhật thực hiện kế hoạch thay đổi chuỗi cung ứng hậu Covid-19
- Khó phát triển giao thông thủy nội địa, tại sao?
- Khó phát triển giao thông thủy nội địa, tại sao?
- Không kiểm tra về PCCC và môi trường với DN gia công, chế xuất, sản xuất hàng XK
- Kiến nghị lập tổ thanh tra việc tăng giá cước vận tải biển
- Kuehne Nagel ra mắt nền tảng cước trí tuệ nhân tạo etrucKNow.com cho các chuyến hàng vận tải đường bộ trong khu vực châu Á Thái Bình Dương
- Kỷ lục 56 tàu container xếp hàng dài tại các cảng Los Angeles và Long Beach
- Làm đúng hay làm khó
- Làm gì để không bị hãng tàu ngoại “bắt chẹt” cước vận chuyển container?
- Lên phương án chuyển hàng hóa ra Lạch Huyện sau di dời cảng Hoàng Diệu
- Logistics nội chịu nhiều sức ép khi vào EVFTA
- Lưu ý đối với các nhà cung ứng thương mại điện tử đến EU
- Maersk và JinkoSolar ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược
- Malaysia áp thuế chống bán phá giá thép Việt Nam
- Minh bạch giá và thực hiện nghiêm các quy định về giá cước vận tải container
- Mỗi chuyến tàu container cập cảng Vũng Áng được hỗ trợ 200 triệu đồng
- Mỗi ngày 4 - 5 triệu đơn hàng xuyên biên giới qua Shopee, TikTok... nếu không áp VAT sẽ gây thất thu thuế
- Một loại hình vận chuyển đang tăng giá “chóng mặt”, cao hơn 110% so với trước Covid
- Một số rủi ro trong kinh doanh và cách xử lý từ chuyên gia
- Mùa vận tải bất thường của thế giới (Kỳ 1)
- Nâng cảnh báo phòng dịch ở sân bay lên mức cao nhất
- Nâng cao hiệu quả khai thác khu vực cảng Cái Mép - Thị Vải
- Nâng cao hiệu quả, giảm chi phí vận tải
- NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS VIỆT NAM VỚI CHUYỂN ĐỔI SỐ !
- NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS VIỆT NAM VỚI CHUYỂN ĐỔI SỐ !
- Ngừng các phương tiện giao thông qua Cửa khẩu Lào Cai-Hà Khẩu
- Nhiều doanh nghiệp báo lỗ từ trăm tỷ đến nghìn tỷ trong năm 2020
- Nhiều nước chuẩn bị kiểm tra "tình huống khẩn nguy" của tàu biển quốc tế
- Những bài học từ tranh chấp về giao nhận, vận tải
- Những tuyến luồng hàng hải nào được cấp phép nhận chìm ngoài biển?
- OPEC+ nhất trí tăng sản lượng khai thác dầu: giảm áp lực cho chi phí vận tải?
- Phải sớm điều tra vụ tàu container đâm gãy cẩu tháp cầu Phước Khánh
- Phân biệt các loại phí lưu container
- Phát triển trung tâm logistics, hãng tàu để giảm áp lực chi phí logistics
- PHÁT TRIỂN VẬN TẢI HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG KHÔNG
- Phí cảng biển ở TP.HCM sẽ được thu như thế nào?
- Phụ phí nhiên liệu (Low Sulphur Surcharge - LSS) từ ngày 01/01/2020
- Quay vòng container rỗng giữa Bắc Mỹ và Châu Á lại đối mặt thách thức mới
- Quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển Việt Nam sẽ có những thay đổi gì?
- Quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển Việt Nam sẽ có những thay đổi gì?
- Sản lượng container hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ giảm mạnh
- Sắp điều chỉnh mức thu phí dịch vụ tại trạm thu phí BOT Bắc Hải Vân
- Sự gián đoạn chuỗi cung ứng container có thể ảnh hưởng đến các chuyến hàng cho đến tận Giáng sinh
- Sự liên kết trong ngành vận tải biển toàn cầu không thay đổi đáng kể
- Tắc nghẽn cảng biển lan rộng tại châu Á, giá cước container dự kiến neo cao đến quý 3/2024
- Tắc nghẽn tại cảng Yantian (Trung Quốc) làm dồn ứ container còn lớn hơn sự cố kênh đào Suez
- Tăng giá dịch vụ cảng biển, các hãng tàu có tăng phí?
- Tăng giá dịch vụ cảng biển, các hãng tàu có tăng phí?
- Tạo động lực cho sự phát triển của khu kinh tế Vân Phong
- Tạo động lực cho sự phát triển của khu kinh tế Vân Phong
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển ngành dịch vụ logistics
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển ngành logistics
- Tàu container lớn nhất thế giới cập cảng quốc tế Cái Mép
- Tàu Ever Given bị mắc cạn tại Kênh đào Suez đã đến Rotterdam
- Tàu Ever Given chuẩn bị rời Suez sau khi đạt được thỏa thuận bồi thường với SCA
- TCIT vượt mốc 2.000.000 TEU sản lượng thông qua
- Tháng 6/2019: Triển lãm về hạ tầng cảng biển và logistics tại Tp. Hồ Chí Minh
- Thành phố Hồ Chí Minh: Phát triển giao thông kết nối cảng biển
- Thành phố phía Đông: Chưa thấy nói đến vai trò của logistics
- Thêm nhiều giải pháp phát triển cụm cảng Cái Mép – Thị Vải
- Thêm nhiều giải pháp phát triển cụm cảng Cái Mép – Thị Vải
- Thị trường vận chuyển và logistics quốc tế (cập nhật tuần 27/2021)
- Thị trường vận chuyển và logistics quốc tế (cập nhật Tuần 45/2021)
- Thu hút hãng tàu container quốc tế đến với Cảng Nghi Sơn: Khi chính sách đi vào thực tiễn
- Thủ tướng sắp chủ trì hội nghị tháo gỡ khó khăn cho vận tải biển
- Thủ tướng: Việt Nam quyết giảm thặng dư thương mại với Mỹ
- Thương mại điện tử xuyên biên giới: Cơ hội cho xuất khẩu
- Thương mại song phương Việt Nam - Ấn Độ vượt 12 tỷ USD trong 11 tháng
- Tiếp tục "phạt nguội" xe quá tải bằng cân tự động trên QL5
- Tiếp tục ưu tiên đầu tư cảng nước sâu
- Tối ưu hóa kho vận từ chuyển đổi số
- Tối ưu hóa kho vận từ chuyển đổi số
- Tối ưu hóa kho vận từ chuyển đổi số
- Tối ưu hóa logistics để phát triển ngành dệt may
- Tôm xuất sang EU đón cơ hội mới từ EVFTA
- Tổng công ty Hàng hải tiếp tục thanh lý tàu già
- Top 10 Công ty uy tín ngành Logistics năm 2020
- TP.HCM thu phí hạ tầng cảng biển từ 1-7-2021
- TP.HCM xây dựng đề án thu phí hạ tầng cảng biển tương tự Hải Phòng
- Treo cờ Việt Nam, tàu "ngoại" sẽ được hưởng lợi những gì?
- Triển lãm quốc tế THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ tại ĐÀI LOAN (TWTC 2019)
- Trung Quốc đầu tư xây dựng siêu cảng ở Nam Mỹ khiến Washington lo ngại
- Trung Quốc mở tuyến vận chuyển hàng hóa hàng không thường xuyên đầu tiên giữa Hải Nam và Australia
- Trung Quốc siết kiểm tra hàng hoá nhập khẩu
- Từ 1/8: Xe kinh doanh vận tải phải đổi biển số màu trắng sang màu vàng
- Từ 2/7/2021, phương tiện kinh doanh vận tải không lắp camera giám sát sẽ bị phạt
- Từ 28/5-1/6/2019: Cấm tàu lưu thông trên sông Hồng đoạn qua cảng Khuyến Lương
- Vận tải biển 2021 sẽ ra sao?
- Vận tải biển đi châu Âu biến động thế nào sau sự cố kênh đào Suez?
- Vận tải biển lên kịch bản phục hồi hậu Covid-19
- Vận tải đường sắt của New Zealand
- Vì sao chưa thể “khoán gọn” nạo vét luồng hàng hải?
- Vì sao Việt Nam chưa sản xuất container?
- Việt Nam đang đứng vị trí thứ 100/190 nước về giao dịch qua biên giới
- Việt Nam xuất siêu mạnh sang EU
- Vietnam Airlines công bố trả cổ tức hơn 1.418 tỷ đồng
- World Bank lo ngại 'thập kỷ mất mát' vì Covid-19
- Xây dựng cảng cạn ở Việt Nam phải đáp ứng những quy chuẩn gì?
- Xu hướng chuỗi cung ứng tại Đông Nam Á và giải pháp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Xuất khẩu bắt đầu “thấm đòn” Covid-19
- Xuất khẩu cà phê giảm mạnh
- Xuất Nhập Khẩu ứng phó với Covid-19: Ngành logistics chịu tác động như thế nào?
- Xuất nhập khẩu: Động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế đất nước
- Yêu cầu các hãng tàu miễn giảm giá dịch vụ lưu container cho DN chủ hàng nhập khẩu



