Thêm nhiều giải pháp phát triển cụm cảng Cái Mép – Thị Vải Chia sẽ bạn bè Sáng ngày 18/6, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (BR - VT) đã diễn ra hội thảo Tiếp tục thực hiện các giải pháp phát triển cản
Sáng ngày 18/6, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (BR - VT) đã diễn ra hội thảo Tiếp tục thực hiện các giải pháp phát triển cảng biển và dịch vụ hậu cần cảng tỉnh BR - VT. Với những tiềm năng và lợi thế sẵn có, nếu được khai thác tốt, cụm cảng Cái Mép - Thị Vải sẽ tạo ra sự phát triển đột phá cho ngành cảng biển Việt Nam. Tham dự Hội thảo có ông Nguyễn Hồng Lĩnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh BR -VT; ông Nguyễn Văn Thọ, Chủ tịch UBND tỉnh BR - VT; ông Nguyễn Văn Công, Thứ trưởng Bộ GTVT, cùng đại diện các Bộ, Ngành và các chuyên gia, doanh nghiệp cảng biển.
Phát biểu khai mạc tại Hội thảo, ông Nguyễn Văn Thọ - Chủ tịch UBND tỉnh cho biết, dịch vụ cảng biển và logistics được xác định là lĩnh vực kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của BR-VT. Dự kiến giai đoạn 2016 - 2020, tổng sản lượng hàng hóa bằng tàu biển tăng 10%. Cụ thể, hàng container bằng tàu biển tăng trưởng bình quân trên 20%/năm. Nếu chỉ tính lượng hàng bằng tàu biển, hiệu suất khai thác cảng trên địa bàn tỉnh đến năm 2019 đạt 53%. Công suất khai thác hàng container tăng từ 20% năm 2015 lên 53% năm 2019.
Hiện nay, rào cản lớn nhất hạn chế sự phát triển của cụm cảng CM-TV vẫn là thiếu sự đồng bộ trong hạ tầng giao thông kết nối cảng; thiếu cở hạ tầng dịch vụ sau cảng; các thủ tục thông quan hàng hóa vẫn còn nhiều hạn chế… Những điều này làm tăng chi phí, chưa thật sự thu hút doanh nghiệp đưa hàng về cảng. Nhiều ý kiến đóng góp đã được đưa ra tại Hội thảo.
Ông Nguyễn Năng Toàn, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn kiến nghị, Bộ GTVT, các Bộ, ngành liên quan cần tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dự án cầu Phước An kết nối đường liên cảng tỉnh BRVT với khu vực Nhơn Trạch (tỉnh Đồng Nai) và cao tốc Bến Lức – Long Thành. Tuyến này được đưa vào hoạt động, cùng với cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu đang triển khai đầu tư sẽ giúp cho giao thông kết nối các tỉnh miền Tây Nam Bộ qua TP. HCM, Đồng Nai đến BR-VTđược nhanh chóng, thuận tiện, giảm áp lực giao thông cho Quốc lộ 51 hiện đang ngày càng quá tải. Khi triển khai xây dựng tuyến cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, cần có phương án quỹ đất cho tuyến đường sắt chạy song song và các trạm/ga dừng tại các khu tập trung nhiều hàng hóa để có thể phát triển phương án kết nối đường sắt cho cả hàng hóa và vận chuyển hành khách trong tương.
Bà Đặng Thị Minh Phương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics cho rằng, cần xác định cụm cảnng CM-TV, bao gồm Cảng Cái Mép Hạ là một lợi thế cạnh tranh không chỉ của địa phương mà là của cả quốc gia trong chiến lược phát triển trở thành cảng trung chuyển của khu vực. Bà Phương nhấn mạnh, cơ sở hạ tầng của hệ thống CM-TV là lợi thế cạnh tranh phần cứng là điều kiện cần, tuy nhiên, tỉnh BR-VT phải tiếp tục cùng các nhà khai thác cảng có chiến lược thu hút các hãng tàu chọn CM-TV là cảng nằm trong hệ thống hải hành quốc tế của các Hãng tàu lớn thì mới có thêm điều kiện đủ.
Ông Trần Hoàng Vũ, Giám đốc khai thác Hãng tàu Maersk kiến nghị, luồng hành hải CM-TV cần được tiếp tục duy tu, nạo vét và mở rộng hơn nữa. Ông Vũ cho biết, mặc dù nhận được sự quan tâm và tạo điều kiện từ Cảng vụ hàng hải Vũng Tàu, Cục Hàng hải Việt Nam trong việc thí điểm đưa các tàu lớn đặc biệt là các tàu mẹ tuyến châu Âu, tuy nhiên độ sâu luồng và chiều rộng luồng hành hải hiện nay thực chất vẫn chưa đáp ứng được hoàn toàn xu thế gia tăng cỡ tàu mẹ trên thế giới. Các tàu hiện nay vẫn phải chờ con nước phù hợp để đủ điều kiện hành hải an toàn dẫn tới lãng phí chiếm dụng cầu bến, chi phí nhiên liệu để bắt kịp cảng kế tiếp.
Ông Nguyễn Văn Công, Thứ trưởng bộ GTVT cho biết, Bộ và các ban ngành liên quan đang tiến hành các giải pháp nạo vét duy tu luồng hành hải CM-TV đưa luồng tàu xuống còn 15,5m để đón được những tàu 20.000 – 24.000 TEUs bất cứ lúc nào mà không phải phụ thuộc vào thủy triều như hiện nay, theo kế hoạch trung hạn đến năm 2025 sẽ hoàn thành. Còn dự án cao tốc Vũng Tàu - Biên Hòa hiện đã được giao về cho tỉnh thực hiện, tuyến Bến Lức - Long Thành hiện đang báo cáo Chính phủ xin ý kiến thực hiện.
Kết thúc Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy BR-VT Nguyễn Hồng Lĩnh khẳng định, để phát huy tối đa lợi thế của cụm cảng CM-TV, tỉnh sẽ tập trung các giải pháp kết nối giao thông đường bộ, đường sắt liên cảng, thực hiện bằng được các tuyến cao tốc theo kế hoạch. Hiện tỉnh đã chuẩn bị quỹ đất hơn 2.000 ha để phát triển trung tâm logistics và các dịch vụ sau cảng; đồng thời phải hình thành được trung tâm kiểm tra hàng hóa hiện đại nhằm tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong việc thông quan hàng hóa. Tỉnh sẽ tập trung chọn lựa các nhà đầu tư đủ năng lực để thực hiện các dự án quan trọng như: trung tâm logistics Cái Mép Hạ, trung tâm logistics Lam Sơn, các đường giao thông kết nối… nhằm tạo sức bật mới cho BR-VT.
Box thông tin: Dài hơn 20 km, cảng Cái Mép - Thị Vải có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới năm 2017 và là một trong 21 cảng trên thế giới có thể đón tàu đến 200.000 tấn. Cảng này năm 2012 chỉ vài chục nghìn container hàng xuất nhập khẩu thì cuối năm ngoái tăng gấp 10 lần. Hàng hóa các tỉnh kinh tế trọng điểm phía Nam có sự dịch chuyển lớn từ cảng ở TP HCM về Cái Mép - Thị Vải. Chiếm 30% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu bằng container cả nước, cảng Cái Mép - Thị Vải được kỳ vọng sẽ trở thành cửa ngõ giao thương phía Nam.
Nguồn: VLR
Tàu nằm bờ, vận tải biển 'nghiêng ngả' trong bão Covid-19
Trong khi các doanh nghiệp vận tải du lịch biển chịu ảnh hưởng toàn diện gần như ngay lập tức khi dịch Covid-19 bùng phát và chịu cảnh nằm bờ, thì các doanh nghiệp vận tải hàng hóa vẫn có sự tăng trưởng, dù mức tăng chậm.
Vận tải hành khách “đóng băng”
Chịu cảnh tương tự như các hãng hàng không, lượng tàu khách và tàu du lịch (hành khách và quốc tế) thông qua cảng biển cũng rơi vào tình trạng "đóng băng" ngay khi dịch Covid-19 ập đến từ đầu năm nay. Tình cảnh một tàu du lịch quốc tế lớn bị từ chối cập cảng Đà Nẵng hồi cuối tháng 2, cộng thêm các quy định chặt chẽ về việc giới hạn và kiểm soát lượng khách quốc tế nhập cảnh tại nhiều quốc gia nhằm phòng chống dịch Covid-19 đã khiến nhiều tàu du lịch quốc tế lớn cắt giảm hải trình du lịch, trong đó có điểm đến Việt Nam.
Tàu khách du lịch quốc tế đến cảng sụt giảm mạnh. Tháng 3 vừa qua chỉ có hai tàu cập cảng (bằng 1,6% so với cùng kỳ năm trước), còn lượt hành khách quốc tế trong quí 1 chỉ đạt 1.656 người, giảm 36% so với cùng kỳ năm ngoái 2019, theo thông báo của Cục Hàng hải Việt Nam.
Đến thời điểm này, do tình hình dịch bệnh tại nhiều quốc gia vẫn diễn biến phức tạp nên các hãng tàu vẫn chưa có kế hoach đưa khách trở lại và Việt Nam đồng thời cũng chưa có kế hoạch mở cửa đón khách du lịch quốc tế đường biển nên khó khăn với ngành vận tải du lịch biển chưa dừng.
Ở chiều ngược lại, lượng vận tải hàng hóa thông qua các cảng bằng đường biển có sụt giảm nhưng vận hành theo hướng tăng chậm lại so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, khối lượng hàng hóa thông qua cảng trong qúi 1 năm 2020 này đạt 159 triệu tấn, tăng 8,4% so với cùng kỳ; trong đó hàng container hơn 5 triệu tấn, tăng 14% so với cùng kỳ.
Bộ GTVT cho biết, việc khai thác tàu hàng tổng hợp đang hoạt động tuyến nội Á, Đông Nam Á gặp khó khăn nên các chủ tàu Việt Nam đã đưa tàu về Việt Nam khai thác, dẫn đến sự cạnh tranh trực tiếp đối với đội tàu nội địa.
Vận tải thủy nội địa cũng gặp khó về kênh vận tải du khách. Do các địa phương thực hiện dừng hoạt động vận tải hành khách theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng, muốn vận chuyển phải báo cáo nên hầu như hoạt động vận tải thủy hành khách cũng dừng. Tuy nhiên, vận tải thủy nội địa qúi 1 về hàng hóa đạt 73,8 triệu tấn, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải hàng hóa thua lỗ
Theo đánh giá của một số tổ chức, đơn vị nghiên cứu ngành hàng hải, trong khoảng 3 tháng đầu năm nay, kể cả trong dịp Tết Nguyên đán, ngành vận tải biển thế giới đã sụt giảm hơn 1,7 triệu TEUs. Giá cước vận tải đường biển trung bình tiếp tục sụt giảm tới 80% kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát. Dịch lây lan và kéo dài trên nhiều quốc gia đã tác động mạnh vào các hoạt động dịch vụ hàng hải của đội tàu Việt Nam.
Theo thống kê của Bộ GTVT, doanh thu hợp nhất hết quí 1 năm nay của Tổng công ty Hàng hải (Vinalines) giảm khoảng 626 tỉ đồng, ước tính số tiền lỗ hợp nhất ở khoảng 113 tỉ đồng. Nếu dịch bệnh kéo dài đến hết năm nay, doanh thu của công ty mẹ Vinalines sẽ giảm cả năm gần 300 tỉ đồng so với quí 1 và tổng tiền lỗ cuối năm khoảng 76 tỉ đồng.
Công ty cổ phần Vận tải biển Việt Nam (Vosco), doanh nghiệp thành viên của Vinalines, từ lâu được coi là doanh nghiệp mạnh trong ngành vận tải biển nội địa mới vừa có một năm 2019 thắng to lại tiếp tục chìm vào cảnh điêu đứng. Trong quí 4-2019, Vosco lãi sau thuế gần 194 tỉ đồng, tăng gần 60% so cùng kỳ năm trước. Kết quả này đã giúp Vosco bù hết số lỗ trong cả 3 quí trước và lãi sau thuế 51 tỉ đồng (cả năm 2019), gấp gần ba lần so năm 2018 (17 tỉ đồng).
Thế nhưng, Covid-19 đã làm nghiêng ngả mọi kế hoạch của Vosco trong năm 2020. Báo cáo tài chính hết quí 1 của công ty cho biết họ lỗ 86,4 tỉ đồng trong quí 1 và doanh thu sụt giảm khoảng gần 80 tỉ đồng so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động vận tải biển ngưng trệ do nhu cầu vận chuyển hàng hóa sụt giảm mạnh, đặc biệt là thị trường Trung Quốc và gần đây là thị trường châu Âu, Mỹ khiến cho chi phí tăng mạnh dù trên thực tế tàu không có hàng để vận chuyển ngưng trệ.
Hệ thống các cảng của Vinalines và các cảng tư nhân đều bị ảnh hưởng do các tàu hủy lịch không đến hoặc neo chờ thậm chí lên đến 10 ngày. Hoạt động kho bãi giảm sản lượng khoảng 40% so với cùng kỳ. Vinalines cho biết, hầu hết đội tàu không đủ việc làm dẫn tới không có dòng tiền trả nợ và chi phí duy trì, chi phí lưu kho tăng cao.
Hiện nay, nhằm giảm bớt chi phí duy trì cho tàu nằm không, một số tàu của Vosco đang hoạt động chở hàng clinker cầm chừng. Tuy nhiên, giá cước vận tải clinker đang giảm rất sâu. Cùng kỳ năm trước, giá cước còn dao động quanh mức 9-9,5 đô la Mỹ/tấn, nhưng hiện nay đã giảm khoảng 30-40%. Giá cước lao dốc trong khi theo quy định của IMO, tàu phải sử dụng nhiên liệu mới (hàm lượng lưu huỳnh 0,5%), chi phí tăng gấp hai lần giá nhiên liệu cũ.
Hàng container nội địa trên tuyến Bắc - Nam đang giảm mạnh khoảng 20-30% chiều từ Hải Phòng vào TPHCM; giá cước cũng giảm 10-20%. Hàng gom từ các cảng khác về cảng Cái Mép - Thị Vải để xuất khẩu đi thị trường Mỹ và châu Âu cũng đang giảm khoảng 30-40% khiến một loạt các tàu feeder (tàu gom hàng) trong cảnh “đói hàng”. Riêng mặt hàng khô, do các nhà máy, công trình xây dựng tạm dừng nên nhu cầu về nguyên vật liệu giảm sâu, giá cước cũng giảm theo.
Ở thị trường quốc tế, hàng loạt các nước từ Ấn Độ, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản,… cũng bị ảnh hưởng dịch bệnh nặng nề, phải đóng cảng, khiến tình trạng tàu nằm chờ để dỡ/lấy hàng diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Vosco đang có 5-7 tàu phải nằm chờ các cảng ở Ấn Độ, Banglades, Philippines,… mở cửa để vào làm hàng. Nếu tình trạng này kéo dài, từ giữa đến cuối quí 2 này, Vosco buộc phải cho một số tàu nằm bờ để giảm gánh nặng chi phí.
Doanh nghiệp logistics tìm cơ hội chuyển đổi số khi chuỗi cung ứng bị đứt gãy
Covid-19 xảy ra và tác động đến mọi mặt của xã hội từ đời sống đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, tại Việt Nam, ban đầu các doanh nghiệp bị đứt gẫy nguồn cung nguyên liệu, chủ yếu từ Trung Quốc, đặc biệt đối với những ngành sản xuất có tính gia công cao, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài như dệt may, da giầy. Giai đoạn tiếp theo vào tháng 3, khi nguồn cung đó được hồi phục một phần thì thị trường đầu ra, đặc biệt là ở Châu Âu và Hoa Kỳ bị ảnh hưởng làm cho các doanh nghiệp vô cùng khó khăn.
Tình trạng đóng cửa biên giới phía Bắc, tiếp đến là phía Tây, Tây Nam. Các phương tiện vận chuyển cũng bị cắt giảm, bao gồm cả hàng không. Lượng hàng giao dịch cũng giảm xuống do nhu cầu giảm. Đến nay ở biên giới phía Bắc đã khôi phục được tương đối, còn phía Tây và Tây Nam thì vẫn đang còn đóng cửa.
Trong bối cảnh này, với ngành được coi là xương sống của nền kinh tế, đồng hành với tất cả các lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, phân phối, lưu thông cho đến tiêu thụ là logistics, cũng đứng trước tình trạng "sập nguồn" đột ngột. Đứt cung, gãy cầu, các doanh nghiệp trong ngành logistics buộc phải nghĩ đến và tìm kiếm những cơ hội trong nền tảng kinh tế số.
COVID-19 ĐÃ RÈN LUYỆN CHÚNG TA KHẢ NĂNG CHỊU ĐƯỢC THỬ THÁCH
Đại dịch Covid 19 là thử thách lớn cho chúng ta trước những biến động khủng hoảng đặt ra. Vấn đề đến với các doanh nghiệp không chỉ lo chạy theo những yếu tố cạnh tranh trước mắt như nâng cao doanh thu đơn thuần hoặc tìm kiếm thêm được 1 hợp đồng mới mà đằng sau đó là việc xây dựng một cơ sở để phát triển lâu dài, có thể lợi nhuận trước mắt chưa tăng ngay nhưng sẽ tạo ra được những thay đổi tốt về quản trị nguồn nhân lực công nghệ cao, ứng dụng nền tảng công nghệ số để có tác phong làm việc hiệu quả cao.
Covid-19 đã rèn luyện cho chúng ta khả năng chịu được thử thách và cách ứng phó với những khó khăn.
Chuyển đổi số đã đề cập đến trong vài năm gần đây. Nhưng Covid-19 bùng nổ đem chuyển đổi số đến với cuộc sống 1 cách tự nhiên, xuất hiện trong mỗi gia đình từ bà nội trợ đến các em bé mầm non. Tuy nhiên, nếu để quá trình đó diễn tiến tự nhiên thì nó sẽ diễn ra rất chậm, cần phải có cú hích từ Chính phủ, các Hiệp hội đến bản thân doanh nghiệp mới có hiệu quả.
CÁC DOANH NGHIỆP CHUYỂN ĐỔI TỪ SỐ 0 LẠI LÀ MỘT LỢI THẾ
Khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn thời gian vừa qua, các hoạt động của doanh nghiệp logistics bị ảnh hưởng nhiều. Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) mới thực hiện khảo sát vào giữa tháng 3 vừa qua, 50% doanh nghiệp bị giảm doanh thu từ 10 đến 30%, các doanh nghiệp bị giảm từ 30 đến 50% doanh thu là trên 10%. Covid-19 là sự kiện xảy ra bất ngờ với cả toàn cầu. Những khó khăn do Covid-19 đem lại quả thật rất khó để giải quyết ngay.
Đây chính là thời điểm để nhìn lại nền tảng dịch vụ của các doanh nghiệp logistics và xem xét các cơ hội để cải thiện. Xem trong quá trình vận hành của doanh nghiệp có thể đáp ứng được những tình huống bất ngờ như thế nào, có dịch vụ nào có cơ hội nổi như logistics cho thương mại điện tử, đây không chỉ là giải pháp tình thế mà còn là xu hướng phát triển của logisctic.
Chuyển đổi số giúp các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng lớn hơn, nhưng để thành công phải có sự cam kết, quyết tâm từ lãnh đạo để gây dựng được văn hóa doanh nghiệp tạo nên nhận thức việc chuyển đổi số là tất yếu. Doanh nghiệp logisitcs thì có rất nhiều mảng dịch vụ khác nhau nên có cách tiếp cận khác nhau, hiện nay nhiều doanh nghiệp đang áp dụng những ứng dụng độc lập, cho từng mảng dịch vụ riêng lẻ.
Nên có lộ trình ngay từ đầu và phải thực hiện dài hơi, tầm nhìn dài hạn, lựa chọn quy trình phù hợp, lựa chọn nhà cung cấp phù hợp, tài chính phù hợp để tạo nên 1 hệ thống liên hoàn với nhau chứ để tích hợp các hệ thống rời rạc lại thì cũng là vấn đề khó khăn.
Có 1 điều là đối với các doanh nghiệp chuyển đổi số từ số 0 thì lại là 1 lợi thế so với các doanh nghiệp già cỗi. Ví dụ như Nhật bản đã đi trước chúng ta rất nhiều về công nghệ nhưng trong logistics, tại các bến bãi họ vẫn đang dùng những màn hình đời rất cũ ngày xưa.
CHUYỂN ĐỔI SỐ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CUỘC THI VỀ CÔNG NGHỆ MÀ LÀ SỰ THAY ĐỔI NHẬN THỨC
Ông Phí Anh Tuấn, CEO PAT Consulting, Phó Chủ tịch Hội tin học TP.HCM
Với các doanh nghiệp logistics, chúng ta nên đề cập đến các quy trình liên thông, quy trình kết nối giữa các doanh nghiệp trong chuỗi hệ sinh thái với nhau, ứng dụng công nghệ mới để tạo ra sự khác biệt, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Nói đến mô hình kinh doanh số (digital business), nếu doanh nghiệp chú trọng hướng ra bên ngoài thì tập trung ứng dụng các kết nối đối tác, kết nối khách hàng. Còn mô hình số hướng nội là chú trọng vào các ứng dụng cải tiến quy trình sản xuất, quản lý hoạt động nội tại của doanh nghiệp. Hoặc kết hợp cả hai.
Tôi không cho rằng chuyển đổi số là 1 cuộc thi về công nghệ mà là sự thay đổi nhận thức, từ chủ doanh nghiệp, các thành viên, nhân viên trong tổ chức để thực hiện quy trình, nó dành cho tất cả các đối tượng doanh nghiệp chứ không chỉ với doanh nghiệp lớn.
Thực tế chúng ta đã dùng chuyển đổi số từ lâu bằng việc ứng dụng các phần mềm trong một số các nghiệp vụ trong tổ chức, doanh nghiệp như phần mềm kế toán, phần mềm văn phòng, ERP... Bây giờ chúng ta hướng đến quá trình chuyển đổi số cao hơn, hệ thống hơn và quan trọng là phải có lộ trình phù hợp với từng doanh nghiệp.
Sự xuất hiện của Covid-19 có thể coi là 1 phương tiện truyền thông miễn phí đối với tất cả mọi người để thay đổi nhận thức về số hóa, về những ứng dụng các giải pháp công nghệ trong đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh, điều này thúc đẩy quá trình chuyển đổi số diễn ra nhanh hơn.
Chẳng hạn như những khó khăn doanh nghiệp logistics gặp phải sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp phải nghĩ đến việc kết nối lại với nhau để chia sẻ thông tin, liên thông quy trình nghiệp vụ, làm giảm thiểu chi phí vận hành logistics, trong khi trước đây điều này có thể rất khó.
Không có 1 mô hình cứng nào áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp. Các chủ doanh nghiệp phải lựa chọn mô hình kinh doanh nào, ưu tiên mô hình tái cấu trúc, cải thiện quy trình điều hành nội tại doanh nghiệp hay ưu tiên mô hình tìm kiếm doanh thu bên ngoài hơn. Càng lượng hóa chi tiết dữ liệu càng nhiều thì hiệu quả của quá trình chuyển đổi của chúng ta sẽ tốt hơn.
CẠNH TRANH TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ GIỜ ĐÃ KHỐC LIỆT HƠN THƯƠNG MẠI TRUYỀN THỐNG
Ông Trần Đình Toản, Phó Giám đốc Công ty CP Đầu tư Công nghệ OSB
OSB là đối tác của tập đoàn Alibaba ở Việt Nam từ năm 2009. Trong hơn 10 hợp tác với Alibaba để hỗ trợ về xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam, sử dụng platform của Alibaba để các doanh nghiệp xuất khẩu trực tuyến ra thị trường nước ngoài, chúng tôi thấy chưa bao giờ doanh nghiệp xuất nhập khẩu khó khăn như hiện nay.
Tuy nhiên tôi cũng thấy đây là giai đoạn vàng cho Việt Nam. Trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020 qua platform của Alibaba, việc tìm hiểu, hỏi hàng của những doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam ở các thị trường nước ngoài tăng đột biến vì người mua không hỏi được ở thị trường Trung Quốc.
Chúng ta đều biết các doanh nghiệp Việt Nam bị cạnh tranh rất khốc liệt với các bạn hàng Trung Quốc. Như vậy thì câu hỏi thường xuyên được đặt ra là làm sao chúng ta cạnh tranh được với các nhà xuất khẩu của Trung Quốc?. Thì chính giai đoạn này, các nhà xuất khẩu của Việt Nam tận dụng được cơ hội để tìm kiếm được khách hàng mới.
Chiến tranh thương mại Mỹ Trung vừa qua một phần cũng chuyển dịch xu hướng thương mại, các nhà nhập khẩu cũng đã chuyển sang thị trường Việt Nam, nhưng Covid là 1 chất xúc tác, tạo 1 cú hích mạnh mẽ hơn thúc đẩy quá trình này.
Tôi tâm đắc câu nói “Có những điều bạn học được tốt nhất trong lúc giông bão”, qua cơn bão Covid này tôi đúc kết 3 bài học mà doanh nghiệp cần thay đổi: Thứ nhất là quy trình hoạt động, quản lý của doanh nghiệp nên đơn giản, được quy chuẩn, lượng hóa tối đa (simple is the best) để trong tình huống khó khăn ta có thể thay đổi, vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình điều hành. Thứ 2 là ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác điều hành, quản lý cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh 1 cách hiệu quả. Thứ 3 là chúng ta phải có dự phòng về tài chính để ứng phó với những khó khăn bất ngờ.
Chúng ta phải coi chuyển đổi số là vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển doanh nghiệp, xuất phát từ ý thức, tầm nhìn của chủ doanh nghiệp và lan tỏa tới tất cả thành phần, xây dựng văn hóa định hướng sự đổi mới, nhân viên có tư duy về số hóa thì việc ứng dụng chuyển đổi số mới hiệu quả.
Các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận với các kênh trực tuyến. Điều này đem lại cả khó khăn và cơ hội cho doanh nghiệp, vì cạnh tranh trong thương mại điện tử ngày càng khốc liệt, khốc liệt hơn so với thương mại truyền thống.
Ngoài ra việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của doanh nghiệp cũng rất quan trọng. Đa dạng hóa người mua và người bán, điều này tưởng là lý thuyết nhưng lại là bài học lớn sau những khủng hoảng vừa qua.
Một xu hướng nữa cũng cần quan tâm là sự chia nhỏ đơn hàng, xu hướng về giao thương, các giao dịch qua mạng ngày càng nhỏ để phòng ngừa rủi ro tốt hơn.
Việc khách hàng là thượng đế nhưng thượng đế hiện giờ nhiều khi không biết mình muốn gì nên là người bán hàng phải khơi gợi tư duy mua hàng của khách, để khách hàng trải nghiệm, dẫn dắt và tạo nhu cầu cho khách hàng. Đây cũng là yếu tố mà môi trường trực tuyến đem lại cho doanh nghiệp.
Theo bizlive.vn
Quốc hội phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA) vừa được Quốc hội thông qua.
Sáng 8/6, Quốc hội họp phiên toàn thể trực tiếp tại hội trường, thông qua Nghị quyết phê chuẩn EVFTA, với 94,62% tỷ lệ đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Còn EVIPA được Quốc hội thông qua với tỷ lệ tán thành 95,65%.
Các Nghị định này sẽ được ký ban hành ngày 30/6. Sau khi Quốc hội Việt Nam phê chuẩn và hai bên hoàn tất thủ tục thông báo, dự kiến 30 ngày kể từ ngày thông báo, hiệp định này sẽ có hiệu lực.
Theo Nghị quyết EVFTA, Quốc hội đồng ý áp dụng toàn bộ nội dung hiệp định. Tuy nhiên, các quy định liên quan tới sở hữu trí tuệ sẽ được áp dụng khi Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005 được sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành.
Riêng với Anh, hiệp định sẽ áp dụng từ thời điểm có hiệu lực đến hết năm 2020 và có thể gia hạn 24 tháng theo thoả thuận giữa Anh và liên minh châu Âu (EU) về việc Anh rời EU.
Quốc hội giao Thủ tướng tổ chức thực hiện hiệp định này, chuẩn bị nguồn lực phát huy những cơ hội và có giải pháp phòng ngừa, xử lý những tác động bất lợi có thể phát sinh khi thực hiện. Định kỳ hàng năm Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội việc thực hiện hiệp định này.
Trước đó, ngày 30/3, Hội đồng châu Âu (EC) quyết định thông qua Hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam (EVFTA).
Chiều nay, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh sẽ điện đàm với Cao uỷ thương mại EU. Đây là cuộc điện đàm đầu tiên giữa hai bên sau khi EVFTA được phê chuẩn, thông qua.
Quốc hội đồng ý áp dụng trực tiếp toàn bộ nội dung hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA). Tuy nhiên quy định về công nhận, cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp đầu tư sẽ được Quốc hội ban hành Nghị quyết riêng.
EVFTA là hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Khi hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế (70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU). Sau 7 năm, 99,2% số dòng thuế (99,7% kim ngạch xuất khẩu) sẽ được xóa bỏ thuế. Với 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu 0%.
EU là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Năm 2019, kim ngạch hai chiều gần 56,4 tỷ USD, trong đó xuất khẩu 41,5 tỷ và nhập khẩu từ EU là 15 tỷ USD.
Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, khoảng 32.000 dự án đã vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 370 tỷ USD. Trong đó, khu vực châu Âu với 2.500 dự án, vốn đăng ký 27,5 tỷ USD. Việc phê chuẩn EVIPA được kỳ vọng giúp thu hút vốn đầu tư, tiếp cận công nghệ mới, sạch từ EU.
Nguồn: Theo vnexpress.net
Hàng hải ứng dụng công nghệ hội nhập cách mạng 4.0
Việc đẩy mạnh ứng dụng KHCN trong quản lý và thủ tục hành chính của ngành Hàng hải VN mang lại lợi ích lớn cho doanh nghiệp và người đi biển...
Việc triển khai thành công cơ chế một cửa giúp DN tiết kiệm thời gian, chi phí và giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng biển
"Số hóa"quản lý
Ông Lê Nam Tuấn,Trưởng phòng Khoa học Công nghệ & Môi trường (Cục Hàng hải VN) cho biết, từ năm 2013, Cục Hàng hải đã xây dựng và đưa vào sử dụng phần mềm trao đổi, theo dõi thông tin kiểm tra tàu biển với các cảng vụ. Từ tháng 12/2015, Cục đưa phần mềm cung cấp thông tin cập nhật về bình đồ luồng hàng hải điện tử (ENC) của 43 tuyến luồng hàng hải. Hệ thống đã giúp người đi biển và cơ quan quản lý nhà nước cập nhật thông tin về bình đồ luồng hàng hải, thông báo hàng hải và hệ thống đèn biển dễ dàng, thuận tiện.
"Năm 2016, Cục Hàng hải VN tiếp tục xây dựng, đưa vào sử dụng phần mềm "Ứng dụng phổ biến thông tin hàng hải trên thiết bị thông tin di động" để tuyên truyền thông tin về tàu biển, thuyền viên, luồng hàng hải đến người dân và doanh nghiệp (DN)", ông Tuấn thông tin.
Một trong những bước đi mạnh mẽ trong ứng dụng KHCN của ngành hàng hải là việc triển khai dịch vụ công trực tuyến. "Cục Hàng hải là cơ quan đi đầu trong việc tham gia thực hiện cơ chế một cửa Quốc gia ngay từ giai đoạn 1 (năm 2014). Tháng 7/2018, Cục tiếp tục triển khai mở rộng Cơ chế Một cửa quốc gia đối với 11 thủ tục hành chính lĩnh vực hàng hải trên Cổng thông tin một cửa quốc gia tại 25 cảng vụ hàng hải.
"Trước đây, khi làm thủ tục giấy, hãng tàu phải cử người vào bờ để mang hồ sơ lô hàng đến từng bộ phận chuyên ngành như: cảng vụ, hải quan, kiểm dịch y tế,... để làm thủ tục. Nếu giấy tờ chưa hợp lệ sẽ bị trả lại để sửa đổi, bổ sung làm phát sinh lớn quỹ thời gian tàu nằm chờ. Một ngày nằm chờ, tàu nhỏ có thể tốn 10.000 USD tiền thuê tàu, với tàu cỡ lớn lên đến 20.000 USD/ngày. Mỗi lần hồ sơ bị trả lại, hãng tàu như ngồi trên đống lửa", ông Phạm Hồng Mạnh, Trưởng hãng tàu T.S Lines tại Hải Phòng nói và cho biết, từ khi việc khai báo thủ tục được triển khai theo cơ chế một cửa, chỉ 15 - 30 phút thủ tục đã được xét duyệt cho tàu vào cảng làm hàng. Trường hợp phải chỉnh sửa hồ sơ cũng vô cùng nhanh chóng khi thao tác trên bản khai điện tử.
Nâng cấp cơ sở dữ liệu, hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật
Theo thống kê, tổng số hồ sơ điện tử được phê duyệt từ tháng 7/2018 đến tháng 12/2018 là gần 28.200 hồ sơ, chiếm 87% tổng số hồ sơ được tiếp nhận", ông Lê Nam Tuấn, Trưởng phòng Khoa học công nghệ & Môi trường (Cục Hàng hải VN) nói và cho biết, việc triển khai thành công Cơ chế một cửa không chỉ giúp DN tiết kiệm thời gian, chi phí mà còn giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng biển.
Ông Nguyễn Xuân Sang, Cục trưởng Cục Hàng hải VN cho biết, để tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng 4.0 theo Chỉ thị số 16 của Thủ tướng Chính phủ, Cục Hàng hải VN đã liên tục gửi văn bản yêu cầu các đơn vị chủ động nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu KH-CN, trong đó chú trọng định hướng theo công nghệ cốt lõi của cuộc cách mạng 4.0 là: công nghệ số hóa, cơ sở dữ liệu lớn, điện toán đám mây,...
"Thời gian tới, Cục cũng sẽ chú trọng nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, tích hợp cơ sở dữ liệu, tạo lập môi trường chia sẻ thông tin qua mạng, đặc biệt là phát triển hệ thống quản lý, giám sát hành trình tàu thuyền, hệ thống thông tin duyên hải Việt Nam trên nền tảng công nghệ số để hỗ trợ công tác đảm bảo an toàn, an ninh hàng hải, điều tra tai nạn, tìm kiếm cứu nạn, phòng ngừa ô nhiễm môi trường lĩnh vực hàng hải", ông Sang nói.
Cũng theo ông Sang, giai đoạn 2019 - 2020, Cục Hàng hải sẽ tiếp tục phối hợp với đơn vị chức năng xây dựng kiến trúc Chính phủ điện tử Bộ GTVT trong lĩnh vực hàng hải. Trong đó, tập trung vào xây dựng, nâng cấp cơ sở dữ liệu chuyên ngành hàng hải,sẵn sàng kết nối, chia sẻ thông tin với các cơ sở dữ liệu nền tảng dùng chung của Bộ GTVT, gồm cơ sở dữ liệu về tàu biển và thuyền viên.
Đã giải phóng gần 600 container quá hạn tại các cảng biển
Theo thống kê của cơ quan chức năng, tính đến ngày 26/4/2019, số container khai báo trên E-manifest là phế liệu đang lưu giữ tại cảng biển còn lại 14.468, giảm 2.748 container so với tháng 3/2019. Trong đó, số lượng container lưu giữ tại cảng dưới 30 ngày là 4.979. Lượng container lưu tại kho, bãi, cảng từ 30 đến 90 ngày là 620; số lượng tồn đọng lưu giữ trên 90 ngày là 8.869 container, giảm 594 container so với tháng 3/2019.
Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc cảng Nam Hải, gần 2 tháng qua, dù cảng Nam Hải có chính sách giảm giá cho doanh nghiệp từ 60 - 80% phí lưu bãi, nhưng hiện tại, mới chỉ có hơn chục container được rút ra, hơn 1.000 container khác vẫn tồn tại cảng gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc giải phóng hàng cũ, lấy không gian tiếp nhận những lô hàng mới.
Đại diện cảng Hải Phòng cũng cho biết, thời điểm hiện tại, doanh nghiệp đã giải quyết cho một số doanh nghiệp lấy hàng phế liệu về sản xuất với mức giảm cao nhất là 20%, song tiến độ rút hàng vẫn rất chậm. “Cảng sẽ tiếp tục tạo điều kiện về phí lưu bãi cho hơn 200 container tồn đọng còn lại, song mức giảm sẽ tương ứng theo doanh thu các hãng tàu đóng góp cho cảng”, đại diện này cho hay.
Thực hiện Chỉ thị 27 của Thủ tướng Chính phủ, Cục Hàng hải VN đã có văn bản gửi các hãng tàu biển, doanh nghiệp cảng biển triển khai đề xuất chủ trương miễn giảm giá dịch vụ lưu container, lưu bãi cho doanh nghiệp chủ hàng nhập khẩu. “Tuy vậy, tiến độ báo cáo của các đơn vị đến nay vẫn rất chậm”, ông Cường thông tin.
Cũng theo ông Cường, thời gian qua, Cục Hàng hải VN liên tục “thúc” các hãng tàu biển khẩn trương báo cáo thông tin về các chủ hàng của lô hàng phế liệu đang tồn đọng tại cảng biển; Thống kê, phân loại hàng hóa container đang tồn đọng, làm rõ nguyên nhân và có biện pháp xử lý.
“Cục Hàng hải VN cũng yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh cảng phải kiên quyết không cho hàng hóa dỡ xuống cảng biển Việt Nam khi chủ tàu, chủ hàng không xuất trình được giấy chứng nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường, hạn ngạch nhập khẩu và chưa thực hiện ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu theo quy định.
Trường hợp hàng hóa đã dỡ xuống cảng nhưng cơ quan hải quan, môi trường kiểm tra phát hiện là chất thải, phế liệu gây ô nhiễm môi trường, chủ phương tiện/người điều khiển phương tiện vận tải hoặc người được ủy quyền có trách nhiệm vận chuyển hàng hóa đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam theo đúng quy định hiện hành”.
Nhằm giải phóng lượng container phế liệu tồn đọng tại cảng biển, mới đây, Bộ Tài Chính đã có báo cáo trình Chính phủ đề xuất thành lập hội đồng xử lý hàng hóa tồn đọng kèm theo hai phương án xử lý.
Phương án 1, hội đồng xử lý hàng hóa tồn đọng sẽ quyết định bán đấu giá lô hàng là phế liệu đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Đối với lô hàng là chất thải nguy hại, phế liệu không đạt quy chuẩn về môi trường, cơ quan hải quan yêu cầu hãng tàu có trách nhiệm thực hiện việc vận chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Nếu quá thời gian hạn định, hãng tàu chưa thực hiện vận chuyển lô hàng đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, hội đồng xử lý hàng hóa tồn đọng sẽ quyết định biện pháp xử lý bằng hình thức tiêu hủy.
Phương án 2, hội đồng xử lý hàng hóa tồn đọng sẽ quyết định biện pháp xử lý bằng hình thức bán đấu giá toàn bộ các lô hàng tồn đọng (bao gồm lô hàng là chất thải, chất thải nguy hại, phế liệu không đạt quy chuẩn về môi trường và lô hàng là phế liệu đạt quy chuẩn). Doanh nghiệp trúng đấu giá có trách nhiệm tiêu hủy với các lô hàng là chất thải, phế liệu không đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
VITIC tổng hợp/ Tham khảo mt.gov.vn
VIPILEC 2019 - Cơ hội mở rộng hợp tác, kinh doanh ngành logistics
Đón đầu làn sóng phát triển của ngành logistics tại Việt Nam – lần đầu tiên, Triển lãm quốc tế về Cơ sở hạ tầng Cảng biển và Logistics tại Việt Nam – VIPILEC 2019 sẽ diễn ra từ ngày 12 – 14 tháng 06 năm 2019 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC) – do đơn vị UBM (Informa Vietnam) tổ chức. Phiên bản lần đầu tiên của VIPILEC 2019 vinh dự nhận được sự bảo trợ của hai tổ chức uy tín hàng đầu trong ngành logistics tại Việt Nam - Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) và Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam (VECOM).
Hiện nay, Việt Nam là một trong những nền kinh tế mở nhất thế giới: Theo IMF (Quỹ Tiền tệ quốc tế), chỉ trong 15 năm qua, tỷ trọng thương mại thế giới đã tăng gấp đôi, với xuất nhập khẩu hiện nay khoảng 160% - 170% GDP. Việt Nam có thuận lợi về vị trí địa lý, ổn định chính trị, xã hội và đặt biệt là sự nhất quán của pháp luật về thương mại, tất cả trở thành một cơ sở tự nhiên, là nơi đang tin cậy cho các nhà sản xuất cung cấp cho chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhằm đẩy mạnh phát triển, thu hẹp khoảng cách nội bộ và tăng cường khả năng cạnh tranh trong khu vực, Chính phủ đã có nhiều quy hoạch xây dựng và đưa vào vận hành các trung tâm logistics,các khu công nghiệp logistics, cụm logistics; nâng cấp đáng kể hệ thống hạ tầng giao thông, trong đó việc xây dựng cảng nước sâu ở TP. HCM gần đây đã cải thiện dòng chảy thương mại và giảm chi phí vận chuyển.
Hiện nay, về chỉ số Hiệu quả logistics (LPI), Việt Nam được xếp hạng 39/160, đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN, chỉ đứng sau Singapore (xếp hạng 7) và Thái Lan (xếp hạng 32). Việt Nam đứng đầu trong các thị trường mới nổi và xếp hạng cao nhất trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp, tất cả 6 tiêu chí đánh giá LPI đều có mức tăng cao. Mục tiêu đến năm 2025,Chỉ số LPIViệt Nam sẽ tăng từ 5 - 10 bậc, hàng loạt các nhiệm vụ về nâng cấp hạ tầng logistics, tăng cường ứng dụng công nghệ, nâng cao hiệu quả thông quan… được bộ Công Thương trực tiếp chỉ đạo. Điều đó cho thấy tiềm năng phát triển logistics tại Việt Nam là rất tốt. Việt Nam đang tìm kiếm, và rất sẵn sàng đón nhận các cơ hội hợp tác về ngành logistics với các nước trong khu vực và quốc tế.
Cơ hội tiếp cận các sản phẩm công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới
Phiên bản đầu tiên của VIPILEC 2019 với diện tích trưng bày lên đến 2000m2, sự kiện sẽ mang đến 100 đơn vị triển lãm đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ - là cơ hội để các doanh nghiệp tham dự trưng bày những cơ hội kinh doanh và khách hàng giàu tiềm năng, tiếp cận các đơn vị triển lãm quốc tế và sản phẩm công nghệ tân tiến hàng đầu của ngành logistic, với danh mục sản phẩm đa dạng gồm: 3PLs và Đơn vị giao nhận vận tải, vận tải hàng không, vận chuyển hàng hóa bằng thùng lạnh, thiết bị xếp dỡ hàng hóa, chuỗi lưu trữ lạnh và đơn vị sản xuất thùng lạnh, đơn vị sản xuất & cho thuê container, hệ thống phân tích dữ liệu, đơn vị cung cấp thiết bị và vận hành đường thủy nội địa, thiết bị & bất động sản Logistics, thiết bị & Công nghệ cảng, Intralogistics thông minh, Logistics thông minh và nhà kho thông minh và nhiều sản phẩm khác.
Cơ hội gặp gỡ, trò chuyện với những chuyên gia hàng đầu ngành logistics
Bên cạnh hoạt động triển lãm, VIPILEC 2019 còn thu hút khách tham quan với nhiều chương trình nâng cao kiến thức gồm các diễn đàn công nghệ, tọa đàm chuyên ngành do Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam (VECOM) và Trung tâm nghiên cứu đa ngành (MESLAB) phối hợp tổ chức cùng Ban tổ chức triển lãm. Đây sẽ là nơi cập nhật hiện trạng và xu hướng mới nhất của ngành cảng biển, logistics ở Việt Nam và trên thế giới.
Lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam, VIPILEC 2019 hứa hẹn sẽ là điểm gặp gỡ thú vị của các chuyên gia thương mại, các doanh nhân, các nhà công nghiệp, các chuyên gia logistics... đến từ các quốc gia trên thế giới. Đồng thời, sự kiện cũng mở ra những cơ hội kinh doanh mới, tạo sự kết nối với các doanh nhân hàng đầu thế giới trong việc tìm hiểu các thương hiệu, những công nghệ tân tiến nhất về cảng biển và logistics hiện nay.
VIPILEC 2019 – Triển lãm và Hội thảo quốc tế lần thứ nhất về Cơ sở hạ tầng cảng biển và Logistics tại Việt Nam sẽ diễn ra từ ngày 12 – 14 tháng 6 năm 2019 tại Trung tâm Hội chợ & Triển lãm Sài Gòn (SECC), quận 7, tp. Hồ Chí Minh, mang đến hàng loạt các sản phẩm và công nghệ tiên tiến bao gồm Công nghệ lưu trữ và sắp xếp nguyên vật liệu, Dịch vụ vận hành cảng, Phần mềm quản lý xuất hàng, gửi hàng và vận chuyển, Phần mềm quản lý lưu kho, hàng tồn kho và lưu trữ, Thiết bị vận tải, và còn nhiều sản phẩm khác nữa. Không chỉ là một sự kiện thương mại đơn thuần, VIPILEC còn là diễn đàn công nghệ dành cho các chuyên gia trong ngành gặp gỡ, trao đổi và thảo luận về thực trạng và xu hướng xoay quanh ngành logistics cũng như quản lý chuỗi cung ứng, thông qua các chương trình tọa đàm và hội thảo kĩ thuật hấp dẫn được dẫn dắt bởi các hiệp hội và tổ chức đầu ngành.
VIPILEC được tổ chức bởi UBM, vừa sáp nhập với Informa vào tháng 6 năm 2018 trở thành tập đoàn công nghệ thông tin hàng đầu về dịch vụ thương mại điện tử B2B và đơn vị tổ chức sự kiện B2B lớn nhất trên toàn thế giới. Vui lòng truy cập www.ubm.com/asia để biết thêm thông tin về chúng tôi tại khu vực Châu Á.
Ngày hội kết nối Doanh nghiệp" tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2019
Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2019 sẽ được tổ chức trong 2 ngày 02 và 03 tháng 5 năm 2019; tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội. Đặc biệt, "Ngày hội kết nối Doanh nghiệp" sẽ được tổ chức trong khuôn khổ Diễn đàn nhằm kết nối kinh doanh, đầu tư cho các doanh nghiệp tham gia chương trình.
Sự kiện sẽ thúc đẩy mối quan hệ cung – cầu giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài, đem đến những cơ hội thiết thực giúp doanh nghiệp Việt Nam tăng cường xuất khẩu, phát triển thị trường và nâng cao giá trị kinh tế. Bên cạnh đó, Doanh nghiệp tham gia chương trình cũng sẽ có cơ hội trao đổi tin về nhu cầu và tiêu chí lựa chọn các nhà cung cấp trong khu vực/tại Việt Nam từ các Tập đoàn đa quốc gia; trực tiếp đối thoại, hỏi đáp để đánh giá thực tế các cơ hội hợp tác và phát triển thị trường trong tương lai gần.
• Thời gian: 8g00 - 12g00 ngày 3/5/2019 • Địa điểm: Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội • Quy mô: Chương trình dự kiến thu hút hơn 100 doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm và dịch vụ để kết nối với các khách hàng và nhà cung cấp trong nhiều ngành nghề và lĩnh vực. • Chương trình không thu phí với mọi đối tượng
Doanh nghiệp đăng ký tham gia chương trình theo đường Link sau: - Tham gia Phiên gặp gỡ các Nhà cung cấp: https://forms.gle/bEEmvSzQQZjp3igT7 - Tham gia Toạ đàm chia sẻ thông tin: https://forms.gle/Dj9hPfCyGexUCrQy9 Nếu Quý doanh nghiệp có bất kì câu hỏi nào về "Ngày hội kết nối Doanh nghiệp", vui lòng liên hệ: Ms. Lương Bích Ngọc - Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. - SĐT: 035.224.6835
Diễn đàn phát triển nguồn nhân lực cho ngành logistics và xu hướng phát triển tại Việt Nam 2019
Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) tổ chức “ Diễn đàn Phát triển nguồn nhân lực cho ngành Logistics và xu hướng tại Việt Nam 2019” phối hợp cùng Chương trình Úc cùng Việt Nam Phát triển Nguồn nhân lực (Aus4Skills) và VCCI nhằm mục đích trao đổi, chia sẻ thông tin về nguồn cung và nhu cầu lao động trong ngành logistics, cũng như dự báo các xu hướng sẽ tác động đến các tiêu chuẩn kỹ năng trong ngành trong tương lai.
Hiệp hội trân trọng kính mời:
Quý Doanh nghiệp Hội viên VLAđến tham dự Hội thảo với chương trình đính kèm, mỗi đơn vị được tham gia tối đa 02 người
- Thời gian: 8:30- 16:00, thứ Năm ngày 16 tháng 05 năm 2019
- Địa điểm: Ball Room 3, Khách sạn Sheraton (88 Đồng Khởi, Bến Nghé, Quận 1)
Sự tham dự của Ông/Bà là niềm vinh hạnh của Hiệp hội.
Xin vui lòng xác nhận tham dự cho Ms Lê Thủy: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.; 028-39432658; trước ngày 09/05/2019.
Trân trọng kính chào.
Doanh nghiệp "mất" tiền tỉ vì hạ tầng kém ở ĐBSCL
Hạn chế hạ tầng logistics ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chẳng những tạo ra gánh nặng lớn về gia tăng chi phí cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông, thủy sản ở khu vực này, mà còn khiến sản phẩm khó cạnh tranh so với đối thủ.
Trao đổi với báo chí bên lề hội thảo “Tăng cường tính kết nối nhằm cải thiện chuỗi giá trị hàng nông sản và thủy sản của ĐBSCL” được tổ chức vào hôm nay, 23-4, ở thành phố Cần Thơ, PGS-TS Hồ Thị Thu Hòa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển logistics Việt Nam (VLI) cho biết, ĐBSCL là khu vực có nhiều ưu thế về tự nhiên trong phát triển logistics, đặc biệt, đường thủy nội địa có thể coi là lớn nhất cả nước.
Tuy nhiên, theo đánh giá của bà, khu vực này hiện còn rất nhiều hạn chế về phát triển logistics, nhất là thiếu hạ tầng kết nối trực tiếp từ ĐBSCL đi các tuyến trên thế giới như châu Âu, Mỹ hoặc nội Á.
“Phần lớn hàng hóa của ĐBSCL được vận chuyển bằng đường bộ hoặc thủy lên cụm cảng Cái Mép - Thị Vải hoặc Cát Lái để xuất khẩu”, bà dẫn chứng.
Theo bà Hòa, việc hàng hóa khu vực ĐBSCL buộc phải đưa lên TPHCM có ảnh hưởng không ít đến chuỗi giá trị và chất lượng hàng hóa khi đưa ra thị trường, đặc biệt, khi hàng khu vực ĐBSCL là nông, thủy sản.
Ngoài hạ tầng giao thông, cũng theo bà Hòa, ĐBSCL cũng thiếu dịch vụ logistics, mà cụ thể ở đây là kho lạnh. “Trong thống kê của chúng tôi, khu vực này chỉ có 6 kho lạnh, trong đó, 4 kho ở Long An, 2 kho còn lại ở Cần Thơ và Hậu Giang”, bà dẫn chứng và cho biết trong khi đó khu vực này có hàng trăm nhà máy sản xuất nông thủy sản.
“Điều đó, dẫn đến doanh nghiệp sau khi sản xuất xong hoặc là vận chuyển lên TPHCM để lưu trữ trước khi xuất khẩu ra nước ngoài hoặc là họ chỉ có thể bảo quản trong kho của doanh nghiệp”, bà cho biết và thông tin, kho của doanh nghiệp thì thiếu hạ tầng lạnh dẫn đến hao hụt sau thu hoạch lên đến 20-40%. “Điều đó làm ảnh hưởng đến giá trị thu được cho toàn vùng”, bà cho biết.
Ông Chu Văn An, Phó tổng giám đốc thường trực Tập đoàn Thủy sản Minh Phú - doanh nghiệp xuất khẩu tôm đông lạnh lớn nhất thế giới hiện nay - cho biết, mỗi năm đơn vị này đóng khoảng 6.700-7.000 container tôm xuất khẩu với kim ngạch đạt 750-850 triệu đô la Mỹ/năm. “Những con số đó chứng tỏ chúng tôi sản xuất lượng hàng thủy sản xuất khẩu tương đối lớn và doanh nghiệp chúng tôi đứng đầu thế giới về xuất khẩu tôm đông lạnh”, ông cho biết.
“Đứng ở góc độ doanh nghiệp, vấn đề chúng tôi quan tâm là gì?”, ông An nêu câu hỏi và cho biết đó là giá thành.
Theo ông An, ĐBSCL có lợi thế đường sông, nhưng con tôm đi đường sông là “thua” vì hiện nay đi đường sông phải mất 30 giờ mới lên đến TPHCM. “Đường sông khổ một nỗi nữa là chạy container lạnh bằng máy diezel (dầu), mà nếu chúng ta không đủ container, thì chi phí rất cao, cao hơn cả đường bộ”, ông dẫn chứng và giải thích đơn vị này hiện phải đóng container đi bằng đường bộ lên TPHCM.
“Từ Cà Mau lên TPHCM chúng tôi mất 11 triệu đồng/container và từ Hậu Giang đi TPHCM mất 7 triệu đồng/container. Như vậy, với 6.700- 7.000 container/năm, thì chi phí logistics riêng vận chuyển hàng hóa là hơn 60 tỉ đồng”, ông cho biết.
Theo ông An, nếu có dịch vụ logistics hợp lý hơn, tức hàng hóa có thể xuất khẩu trực tiếp từ ĐBSCL, không phải đưa lên TPHCM, thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn, khoảng 30-40%. “Khi đó, sản phẩm sẽ gia tăng được tính cạnh tranh hơn”, ông cho biết.
Về bài toán logistics của ĐBSCL, bà Hòa cho biết, từ năm 2015, Chính phủ đã ban hành Quy hoạch các trung tâm logistics cả nước, trong đó, ĐBSCL có 2 trung tâm hạng 2. “Nhưng, cho đến nay, sau 4 năm chúng ta vẫn chưa có trung tâm logistics nào ở khu vực này”, bà cho biết.
Theo bà, các địa phương khu vực ĐBSCL, nhất là thành phố Cần Thơ cần có quyết tâm hơn trong việc hình thành một trung tâm logistics của vùng. “Tuy nhiên, không vì vội vàng mà không có nghiên cứu khả thi”, bà nhấn mạnh và cho rằng cần có nghiên cứu, đánh giá nhu cầu sử dụng logistics ở khu vực này ở từng mặt hàng cần những dịch vụ cụ thể nào để khi xây dựng trung tâm logistics phù hợp với đặc trưng, nhu cầu những mặt hàng của các địa phương, tránh xây dựng lãng phí mà không đáp ứng được nhu cầu.
Trong bối cảnh luồng Quan Chánh Bố kết nối vào cảng Cái Cui (Cần Thơ) không đáp ứng được nhu cầu vận tải biển, ông Nguyễn Minh Toại, Giám đốc Sở Công Thương Cần Thơ đề xuất, cần có giải pháp khơi thông luồng Định An để giúp đưa hàng hóa từ ĐBSCL trực tiếp đi ra thế giới, thay vì lên TPHCM như hiện nay.